vanban.org

Quyết định 06/2025/QĐ-TA

TAND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 17/04/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Tiến P; Sinh ngày 07 tháng 3 năm 1981; Trú tại: Thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Địa điểm cơ sở cai nghiện: Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Bắc Kạn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Chu Tiến P"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Tiến P; Sinh ngày 07 tháng 3 năm 1981; Trú tại: Thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2025/QĐ-TAN, ngày 17 tháng 4 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Hoàng Út Lệ

2. Thư ký phiên họp: Bà Nông Thùy Chung - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 06/2025/QĐ-TA ngày 11 tháng 4 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Chu Tiến P (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 07/3/1981; Số định danh cá nhân/CMND/CCCD số: 0060810………; Ngày cấp: 10/5/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH, Bộ C2; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nguyên quán: Xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Chu Khánh C, sinh năm 1955 và bà Bàn Thị S, sinh năm 1959.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Quyết định số 11/2021/QĐ-TA, ngày 23/6/2021, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng.

- Quyết định số 14/QĐ-UBND, ngày 18/01/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn biện pháp quản lý tại gia đình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Công an xã T: Ông Doanh Sơn T - Trưởng Công an xã T, tỉnh Bắc Kạn.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn: Bà Tô Thị Tấm - Kiểm sát viên.

3. Những người khác tham gia phiên họp: Không có.

NHẬN THẤY:

Chu Tiến P đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 43/QĐ-UBND, ngày 31/3/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, thời hạn quản lý là 02 năm từ ngày 31/3/2023 đến ngày 31/3/2025.

Đến ngày 20/3/2023, Công an xã T đã tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với P cho kết quả dương tính đối với chất ma túy. Cùng ngày, Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã lập biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC đối với Chu Tiến P về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 24/3/2025 của Trung tâm Y tế huyện N, tỉnh Bắc Kạn xác định Chu Tiến P: Nghiện ma túy. Tại bản tường trình ngày 20/3/2025 của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã xác định: Chu Tiến P sử dụng ma túy, loại Heroine. Bản thân thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy từ nhiều năm, hình thức sử dụng là tiêm chích. Tần suất sử dụng 03 ngày đến 05 ngày 01 lần. Lần cuối sử dụng ma túy là ngày 17/3/2025.

Như vậy, hành vi của Chu Tiến P thuộc trường hợp “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện” quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

Ngày 27/3/2025, Công an xã T đã lập hồ sơ gửi đề nghị Tòa án nhân dân huyện N xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Tiến P. Ngày 28/3/2025, Công an xã T đã thông báo về việc lập hồ sơ và Chu Tiến P đã đọc hồ sơ theo quy định.

Tại phiên họp:

Đại diện Công an xã T đề nghị Tòa án nhân dân huyện N áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Kạn đối với Chu Tiến P.

Người bị đề nghị Chu Tiến P vắng mặt tại phiên họp.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đã thực hiện đúng trình tự quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, đồng thời nêu quan điểm có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Tiến P.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đề nghị và ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, lập hồ sơ và Kiểm sát viên tham gia phiên họp,

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân, Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Tiến P thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Về thời hiệu: Trong thời hạn 02 năm quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, Chu Tiến P đã tái nghiện. Ngày 24/3/2025, phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy xác định Chu Tiến P nghiện ma túy. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày phát hiện Chu Tiến P tái nghiện trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy, Công an xã T lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Như vậy đã thực hiện đúng trình tự và trong thời hiệu theo quy định tại Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý.

Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý và Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C2, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Hành vi không tự nguyện cai nghiện và quyết tâm từ bỏ ma túy đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe bản thân, ảnh hưởng kinh tế gia đình và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm nên việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Chu Tiến P là cần thiết.

Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Chu Tiến P thấy: Chu Tiến P có nơi cư trú ổn định, lai lịch rõ ràng. Sau khi phát hiện hành vi vi phạm, Chu Tiến P đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Chu Tiến P là người có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân Chu Tiến P đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy nhưng nhưng P không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn tiếp tục tái nghiện. Chu Tiến P không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định Chu Tiến P thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện” theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng chống ma tuý năm 2021.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của Chu Tiến P, Toà án nhân dân huyện N xét thấy cần thiết phải đưa Chu Tiến P vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian đủ để Chu Tiến P có điều kiện lao động, học tập trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 9; Điều 95, 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 4 Điều 32 Luật Phòng chống ma tuý năm 2021; Điều 3, Điều 12, Điều 13, Điều 17, Điều 23, Điều 24, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C2, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Tiến P; Sinh ngày 07 tháng 3 năm 1981; Trú tại: Thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Địa điểm cơ sở cai nghiện: Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Bắc Kạn.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Trưởng Công an xã T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện N có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thi hành quyết định này.

Cỡ chữ