- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Gia M bị VKS truy tố về tội: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS - phạm tội vi phạm quy đị…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HSST Ngày: 25/02/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY-HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hữu Sinh, ông Vũ Xuân Hải
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Dương – Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trần Hi u, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025, theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Gia M, sinh ngày 26/11/2005 (Tên gọi khác: không).
Nơi ĐKHKTT: xóm N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn T; con bà: Trương Thị B; Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ, tạm giam: bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2024 đ n nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hoà Bình.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: ông Bùi Đình Thưởng - trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hoà Bình. vắng mặt tại phiên toà.
2.2. Người bị hại: ông Quách Tất D, sinh năm 1973. (đã ch t)
Người đại diện của người bị hại: bà Bùi Thị Q, sinh năm 1975. có mặt
HKTT: thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Hoà Bình.
2.3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vi Văn T, sinh năm 1982. Có mặt
Trú tại: xóm N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
2.4 Người làm chứng
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975. vắng mặt
- Chị Bùi Thị M, sinh năm 1995. vắng mặt
- Ông Trần Xuân T, sinh năm 1973. vắng mặt
Cùng trú tại: thôn S, xã Phú T, huyện L, tỉnh Hoà Bình.
- Anh Bùi Văn H, sinh năm 1978. có mặt
Trú tại: thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Hoà Bình.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vi Gia M, sinh năm 2005, HKTT: Xóm N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An là người không có giấy phép lái xe mô tô.
Tối ngày 22/9/2024, Vi Gia M điều khiển xe mô tô BKS: 37HA-512.70 đi từ phòng trọ về quê tại Nghệ An. Khoảng 19 giờ 59 phút cùng ngày, M điều khiển xe mô tô đ n Km 465+150m đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận: thôn S, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình là đoạn đường thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, do không chú ý quan sát nên M không phát hiện xe đạp điện màu đen không có BKS do ông Quách Tất D, SN: 1973, HKTT: thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình điều khiển đi phía trước cùng chiều đang chuyển hướng từ phải sang trái đường theo hướng Hà Nội đi Thanh Hóa. Do khoảng cách hai xe quá gần nên xe mô tô do M điều khiển đã đâm vào xe đạp điện làm ông D cùng xe đạp điện đổ ngã sang bên phải đường hướng Hà Nội đi Thanh Hóa còn M cùng xe mô tô đổ ngã sang bên trái đường hướng cùng chiều. Ông D được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam sau đó tử vong. Sau khi xảy ra vụ tai nạn Cơ quan Công an đã ti n hành kiểm tra đo nồng độ cồn đối với Vi Gia M k t quả kiểm tra là: 0.000 mg/Lít khí thở.
K t quả khám nghiệm, xác định hiện trường hiện trường xác định: Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại km 465+150m đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn S, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình là đoạn đường thẳng, mặt đường rộng 6,70m, được trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng. Lấy cột lộ trình H2/465 bên phải theo chiều Hà Nội đi Thanh Hóa làm mốc chuẩn đo hiện trường. Lấy mép đường bên phải hướng theo chiều Hà Nội đi Thanh Hóa làm mép đường chuẩn. Đoạn đường xảy ra tai nạn có biển hạn ch tốc độ 60km/h. Điểm va chạm của hai xe nằm ở phần đường bên phải hướng Hà Nội đi Thanh Hóa, cách tim đường 0,85m, cách mép đường chuẩn là 2,50m và cách mốc chuẩn 53,10m . Thời ti t khi xảy ra vụ tai nạn: Trời tối, thời ti t mưa, mật độ tham gia giao thông thưa thớt, hai bên đường thông thoáng không bị che khuất tầm nhìn.
K t quả khám nghiệm phương tiện tai nạn:
Xe mô tô BKS: 37HA-512.70 xác định: Phần nhựa bên phải người điều khiển có v t tỳ mài vỡ nhựa diện 20 x 09cm; đèn xi nhan bên phải người điều khiển bị vỡ rời khỏi vị trí ban đầu KT: 06x03cm. Phần nhựa bảo vệ đèn chi u sáng phía trước bị trầy xước diện 07x06cm, phần nhựa bảo vệ đầu xe phía trước bị vỡ rơi khỏi vị trí ban đầu, tay nắm bên phải người điều khiển bị gập từ trước về sau. Chắn bùn của bánh xe phía trước bị vỡ bám dính tạp chất màu đen diện 14x08cm. Cánh y m bên trái người điều khiển bị vỡ, bật chốt rời khỏi vị trí ban đầu bám dính tạp chất màu đen diện 12x07cm. Đầu xe bị lệch khỏi vị trí ban đầu, chiều hướng từ trước về sau, nan hoa vành bánh trước bị đứt 01 nan hoa rời khỏi vị trí ban đầu. Vành bánh xe phía trước bị cong vênh, để chân phía trước bên phải người điều khiển bị rách cao su lộ phần kim loại diện 02x02cm, đầu kim loại bám dính tạp chất, phần cao su bị lệch khỏi vị trí ban đầu.
Xe đạp điện màu đen không có BKS xác định: Cụm công tắc điều khiển bên trái người điểu khiển bị vỡ rời khỏi vị trí ban đầu; đầu tay nắm bên trái người điều khiển có v t tỳ mài diện 01x01cm; đầu tay phanh bên trái người điều khiển có v t tỳ mài diện 01x01cm; cuối tay phanh bên trái người điều khiển có v t tỳ mài diện 02x01cm; đầu ốc trục trước bánh xe phía trước bên trái người điều khiển có v t tỳ mài diện 01x01cm; phần khung xe phía trước bên phải người điều khiển bám dính tạp chất màu trắng diện 09x02cm, cuối v t cao cách viền 55cm, đầu v t cao cách viền 63cm; Phần nhựa bảo vệ pin bên trái người điều khiển bị vỡ diện 40x20cm.
K t quả khám nghiệm tử thi xác định: nạn nhân là ông Quách Tất D, sinh năm 1973, giới tính nam, cao 1m51. Tại bản k t luận giám định tử thi số 501/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 24/9/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình xác định: Nạn nhân bị chấn thương vùng đầu, mặt, bả vai, ngực, lưng, tay, chân do tác động va đập với vật tày rắn gây nên các tổn thương: vỡ xương hộp sọ, gãy xương sườn, tràn khí dưới da thành ngực và nhiều v t xây sát, rách da, bầm tím, sưng nề trên cơ thể nạn nhân. K t luận: nạn nhân ch t do đa chấn thương
*Vật chứng vụ án
- 01 (Một) chi c xe mô tô nhãn hiệu HONDA, kiểu dáng WAVE A, màu trắng, BKS: 37HA-512.70; Số khung: RLHJA3930RY002412; Số máy: JA70E0254098, xe cũ, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng máy bên trong, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông;
- 01 (Một) Đăng ký xe mô tô số: 37000714, mang tên: Vi Gia M do Công an xã Quỳ Hợp ký ngày 28/01/2024.
- 01 (Một) chi c xe đạp điện, không BKS, màu đen, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong, đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
Căn cứ k t quả trưng cầu giám định kỹ thuật trưng cầu giám định an toàn kỹ thuật đối với xe mô tô BKS: 37HA-512.70. Tại bản k t luận giám định số: 568/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình, k t luận: “Phanh trước và phanh sau hoạt động bình thường (còn tác dụng). Hệ thống lái hoạt động bình thường. Còi hoạt động bình thường. Đèn xi nhan hai bên, trước và sau hoạt động bình thường. Đèn pha trước, đèn báo phía sau hoạt động bình thường”.
Đối với ông Quách Tất D điều khiển xe đạp điện tham giao thông khi chuyển hướng không chú ý quan sát khi chuyển hướng nên không phát hiện xe mô tô đang đi phía sau cũng là một phần nguyên nhân gây nên vụ tai nạn.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra gia đình bị cáo Vi Gia M đã bồi thường cho gia đình ông D số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Bà Bùi Thị Q (vợ ông D) đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Đồng thời bà Bùi Thị Q có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Vi Gia M.
Đối với chi c xe đạp điện, màu đen do ông Quách Tất D điều khiển, đại diện người bị hại có đơn xin lại tài sản. Xét thấy việc trả lại xe đạp điện không ảnh hưởng đ n việc giải quy t vụ án. Cơ quan điều tra Công an huyện Lạc Thủy đã trả chi c xe trên cho gia đình bị hại.
Người bào chữa xin vắng mặt tại phiên toà, gửi bản bào chữa cho bị cáo Vi Gia M: Bị cáo Vi Gia M có hai tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn nối hải và tự nguyện bồi thường thiệt hại, ngoài ra bị cáo còn có các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (BLHS): bị cáo đầu thú, bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở địa bàn kinh t khó khăn; hậu quả xảy ra một phần lỗi của người bị hại. Bị cáo có nơi cư trú rõ, có nhân thân tốt, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên phạt bị cáo 36 tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo và trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên toà.
Bản Cáo trạng số 06/CT-VKSLT ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Vi Gia M về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quy t định truy tố đối với bị cáo, đề nghị HĐXX:
- Tuyên bố bị cáo Vi Gia M phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) xử phạt Vi Gia M 36 (ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng. Trả tự do cho bị cáo Vi Gia M tại phiên tòa n u bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: trả lại cho Vi Gia M:
- 01 (Một) chi c xe mô tô nhãn hiệu HONDA, kiểu dáng WAVE A, màu trắng, BKS: 37HA-512.70; Số khung: RLHJA3930RY002412; Số máy: JA70E0254098, xe cũ, đã qua sử dụng, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại: Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình)
- 01 (Một) Đăng ký xe mô tô số: 37000714, mang tên: Vi Gia M do Công an xã Quỳ Hợp ký ngày 28/01/2024.
(Chuyển theo hồ sơ vụ án, hiện đang lưu giữ tại Toà án)
Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt người bào chữa, không hoãn phiên toà, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố và không có ý ki n tranh luận.
Đại diện người bị hại: không có ý ki n tranh luận, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Ông Vi Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn tiền ông đã bồi thường cho gia đình người bị hại.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo hoà nhập xã hội, làm công dân tốt. Bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý ki n gì hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng cũng như các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra. Do đó các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quy t vụ án tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để khẳng định:
Khoảng 19 giờ 59 phút ngày 22/9/2024, tại Km 465+150 m đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận: thôn S, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Vi Gia M không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô BKS: 37HA-512.70, dung tích xi lanh 109, 2 cm3 do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước xe của mình, vi phạm khoản 9, khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ, hậu quả ông Quách Tất D tử vong do đa chấn thương
Hành vi của Vi Gia M đủ y u tố cấu thành tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS. Vì vậy, Cáo trạng số 06/CT-VKSLT ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội danh như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình ti t giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại. Ngoài ra, bị cáo đầu thú, bị cáo là dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh t khó khăn, đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và người bị hại có một phần lỗi. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình ti t tăng nặng: Bị cáo không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về hình phạt
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đ n trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng của người khác. Xét lỗi, vai trò, tính chất, hậu quả hành vi của bị cáo cũng như nhân thân và các tình ti t giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả xảy ra một phần do lỗi của người bi hại chưa đi đúng phần đường của mình. Xét thấy chưa cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ sức răn đe, giáo dục cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị của đại diện VKSND là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: đề nghị của đại diện VKSND là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
Về dân sự: Đại diện người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, ông Vi Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn nên HĐXX không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo:
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định tại Điều 331 BLTTHS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Vi Gia M phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, khoản 4 Điều 328 BLTTHS xử phạt Vi Gia M 36 (ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo Vi Gia M tại phiên tòa n u bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo cho UBND xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quy t định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: trả lại cho bị cáo Vi Gia M:
- Một chi c xe mô tô nhãn hiệu HONDA, kiểu dáng WAVE A, màu trắng, BKS: 37HA-512.70; Số khung: RLHJA3930RY002412; Số máy: JA70E0254098, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại: Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình)
- Một Đăng ký xe mô tô số: 37000714, mang tên: Vi Gia M.
(chuyển theo hồ sơ vụ án, hiện lưu giữ tại Toà án)
3. Về dân sự:
Gia đình bị hại đã nhận bồi thường 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm; ông Vi Văn T không yêu cầu bị cáo bồi hoàn nên không giải quy t.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Vi Gia M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh , VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Thuỷ; - Bị cáo; Người có QL.NVLQ; - Thi hành án HS; - Chi cục Thi hành án DS Lạc Thuỷ; - UBND xã C; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hường |