vanban.org

Quyết định 06/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 23/04/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị S.

Tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam và chị Nguyễn Thị S vào tháng 01/2012 đến tháng 03/2012 (Do chị Hoàng Thị Phương Thanh mượn hồ sơ) với mã số bảo hiểm T132139464 là vô hiệu toàn bộ. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Thoái thu thời… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Chị S tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2024/QĐST-LĐViệt Trì, ngày 23 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phùng Thị Thu Hường.

Thư ký phiên họp: Ông Vũ Đức Minh - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Quách Thị Như Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số 68/2023/TLST-VLĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về việc: Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số 54/2023/QĐST-VDS ngày 15 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1992 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm Còn 1, Thu Ngạc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam

Địa chỉ: KCN Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Thu Hằng, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt)

2. Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ

Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường Tân Dân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Quốc Thịnh , Trưởng phòng cấp sổ thẻ và ông Trần Anh Tuấn, Chuyên viên phòng Quản lý thu- số thẻ (Đều có đơn xin vắng mặt)

3. Chị Hoàng Thị Phương Thanh, sinh năm 1996 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: TDP Lạc Kiều, thị trấn Tam Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại Đơn yêu cầu chị Nguyễn Thị S trình bày:

Tháng 01/2012, do hiểu biết pháp luật kém nên đã cho chị Hoàng Thị Phương Thanh, sinh năm 1996 là bạn của chị mượn hồ sơ để đi làm tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam.

Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam có ký hợp đồng lao động với chị Sang tuy nhiên người ký hợp đồng và đi làm là chị Hoàng Thị Phương Thanh. Sau khi ký hợp đồng, Công ty đã tiến hành đóng BHXH cho chị theo quy định của pháp luật theo số sổ bảo hiểm số T132139464. Đến cuối tháng 3/2012, chị Thanh thôi việc (đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động).

Trong thời gian chị Thanh làm việc dưới tên chị tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam thì chị đang làm việc tại Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam. Vì vậy người ký hợp đồng lao động với công ty TNHH KEE EUN Việt Nam và làm việc tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam là chị Thanh.

Nay chị làm đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động do chị Hoàng Thị Phương Thanh sử dụng hồ sơ xin việc mang tên chị kí kết với công ty TNHH KEE EUN Việt Nam vô hiệu do có sự lừa đối và đề nghị Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ thoái thu thời gian đóng bảo hiểm trùng trong sổ bảo hiểm mang tên chị được Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam đóng từ tháng 01/2012 đến tháng 03/2012 là 1.233.540đ (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi đồng). Số tiền thoái thu chị đề nghị trả cho chị Thanh là người lao động thực sự.

Ngoài ra do công việc bận nên chị đề nghị được vắng mặt trong phiên họp yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam trình bày tại bản tự khai:

Tháng 01/2012, Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam có ký hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1992 có ĐKHKTT tại: Xóm Còn 1, Thu Ngạc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Sau khi ký hợp đồng, Công ty đã tiến hành đóng BHXH cho chị Sang theo quy định của pháp luật theo số sổ bảo hiểm số T132139464. Đến cuối tháng 03/2012, chị Sang thôi việc (đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động).

Sau khi chị Sang làm đơn yêu cầu và được Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì thông báo Công ty đến làm việc, Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam mới được biết: Vào thời điểm tháng 03/2012, do chị Sang thiếu hiểu biết nên chị Sang đã cho chị Hoàng Thị Phương Thanh là bạn của chị Sang mượn 01 bộ hồ sơ xin việc mang tên Nguyễn Thị S để đi xin việc. Cụ thể, chị Thanh đã lấy 01 bộ hồ sơ xin việc mang tên Nguyễn Thị S để xin vào làm việc tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam. Trong thời gian chị Thanh làm việc dưới tên chị Sang tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam thì chị Sang đang làm việc tại Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam. Vì vậy người ký hợp đồng lao động với công ty Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam và làm việc tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam là chị Hoàng Thị Phương Thanh.

Nay chị Sang làm đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động do chị Hoàng Thị Phương Thanh sử dụng hồ sơ xin việc mang tên chị Nguyễn Thị S kí kết với công ty TNHH KEE EUN Việt Nam vô hiệu do có sự lừa đối và đề nghị Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ thoái thu thời gian đóng bảo hiểm trùng trong sổ bảo hiểm mang tên chị Nguyễn Thị S được Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam đóng từ tháng 01/2012 đến tháng 03/2012.

Quan điểm của Công ty với yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Nguyễn Thị S, để đảm bảo quyền lợi cho chị Sang và Công ty đề nghị Tòa án:

1) Tuyên bố hợp đồng lao động mang tên chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1992, trong số sổ BHXH T132139464 được cấp tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam là vô hiệu do có sự lừa dối.

2) Đề nghị và yêu cầu cơ quan Bảo hiểm: Thoái thu thời gian tham gia BHXH của mã số BHXH T132139464, mang tên Nguyễn Thị S từ tháng 01/2012 đến tháng 03/2012 tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam.

3) Về số tiền thoái thu: Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam nhất trí với với tổng số tiền thoái thu do BHXH tỉnh Phú Thọ đã tính toán là: 1.233.540đ (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi đồng).

Trường hợp số tiền thoái thu nếu có liên quan hoặc hoàn trả thì Công ty đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho Công ty cũng như các đương sự khác.

Hiện nay hồ sơ xin việc của công nhân thời điểm năm 2010-2017 Công ty không còn lưu giữ nên không cung cấp cho Tòa án hợp đồng lao động được.

Ngoài ra, vì lý do công việc nên Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam đề nghị được vắng mặt trong tất các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên xét xử của Tòa án. Yêu cầu Tòa án gửi bản án cho tôi qua đường bưu điện.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ trình bày tại bản tự khai.

Qua quá trình rà soát bảo hiểm xã hội trên hệ thống, Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ phát hiện trường hợp chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1992 ở Xóm Còn 1, Thu Ngạc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có hai số sổ bảo hiểm xã hội:

Số sổ 1: T132139464 được cấp tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam

Số sổ 2: 2511017565 được cấp tại Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam

Tháng 01/2012, chị Hoàng Thị hương Thanh (Người mượn hồ sơ) đi làm tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam và tham gia BHXH theo mã số T132139464. Thời điểm đó chị Sang đang làm việc và có tham gia bảo hiểm xã hội tại Công TNHH YAKJIN Việt Nam theo mã số 2511017565.

Nay chị Sang trình bày là do thiếu hiểu biết nên đã cho chị Thanh mượn hồ sơ để đi làm, cụ thể: Chị Thanh đã lấy 01 bộ hồ sơ, sơ yếu lý lịch mang tên chị Sang để xin việc tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam. Trong thời gian chị Thanh làm việc dưới tên chị Sang tại công ty TNHH KEE EUN Việt Nam thì chị Sang đang làm việc tại Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam, vì vậy người ký hợp đồng lao động với công ty TNHH KEE EUN Việt Nam và làm việc tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam là chị Hoàng Thị Phương Thanh

Đối với việc đóng BHXH: Sau khi công ty và người lao đông ký hợp đồng lao động, công ty sữ gửi hồ sơ, danh sách người lao động đến cơ quan BHXH để làm thủ tục đóng BHXH theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Điều này đã dẫn đến việc chị Nguyễn Thị S có 02 số sổ BHXH trùng thời gian đóng BHXH tại 02 nơi làm việc khác nhau.

Quan điểm của Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ về yêu cầu của chị Sang là đồng ý với yêu cầu của chị Sang, đồng ý thoái thu thời gian tham gia BHXH của mã số BHXH T132139464 được cấp tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam, mang tên Nguyễn Thị S từ tháng 01/2012 đến tháng 03/2012 tại Công ty TNHH TNHH KEE EUN Việt Nam với tổng số tiền là 1.233.540đ (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi đồng).

Ngoài ra, vì lý do công việc nên đề nghị được vắng mặt trong tất các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên xét xử của Tòa án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị Phương Thanh trình bày:

Tháng 01/2012, do hiểu biết pháp luật kém nên chị đã mượn bộ hồ sơ xin việc đứng tên chị Nguyễn Thị S là bạn của chị mượn hồ sơ để đi làm tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam.

Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam có ký hợp đồng lao động với chị Sang tuy nhiên người ký hợp đồng và đi làm là chị. Sau khi ký hợp đồng, Công ty đã tiến hành đóng BHXH cho chị theo quy định của pháp luật theo số sổ bảo hiểm số T132139464. Đến tháng 03/2012, chị thôi việc (đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động).

Trong thời gian chị làm việc dưới tên chị Sang tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam thì chị Sang đang làm việc tại Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam. Vì vậy người ký hợp đồng lao động với công ty Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam và làm việc tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam là chị

Nay chị Sang làm đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động do chị sử dụng hồ sơ xin việc mang tên chị Sang kí kết với công ty TNHH KEE EUN Việt Nam vô hiệu do có sự lừa đối và đề nghị Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ thoái thu thời gian đóng bảo hiểm trùng trong sổ bảo hiểm mang tên chị Sang được Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam đóng từ tháng 01/2012 đến tháng 03/2012 thì chị cũng đồng ý, đề nghị thoái thu để đảm bảo quyền lợi cho chị.

Ngoài ra do công việc bận nên chị đề nghị được vắng mặt trong phiên họp yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị Căn cứ: Khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 401 và Điều 402 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 122, Điều 132 Bộ luật dân sự 2005; Điều 6, Điều 30 Bộ luật lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị S;

Tuyên bố Hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam với chị Nguyễn Thị S (do chị Hoàng Thị Phương Thanh ký) với mã số BHXH T132139464 là vô hiệu toàn bộ.

- Về xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Thoái thu thời gian đóng trùng bảo hiểm xã hội tháng 01/2012 đến tháng 03/2012 tại số sổ BHXH T132139464 tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam. Số tiền thoái thu căn cứ theo sự tính toán của BHXH tỉnh Phú Thọ là 1.233.540đ (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi đồng) trả lại cho chị Hoàng Thị Phương Thanh.

Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000đ lệ phí (được khấu trừ vào số tiền đã nộp lệ phí).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và thoái thu bảo hiểm xã hội quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự. Tháng 01/2012, người lao động và Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam đã ký hợp đồng lao động tại trụ sở Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam tại xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì theo điểm v, khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị S đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam và chị Sang vào tháng 01/2012 (Do chị Thanh mượn hồ sơ) là vô hiệu, xét thấy: Việc chị Thanh lấy hồ sơ tên chị Sang để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam là vô hiệu do có sự lừa dối vì không đúng chủ thể giao kết hợp đồng. Hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu là chị Nguyễn Thị S có khoảng thời gian bị đóng trùng bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2012 đến tháng 3/2012 tại số sổ bảo hiểm T132139464 mang tên Nguyễn Thị S. Việc đóng trùng bảo hiểm xã hội ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị Sang khi tham gia Bảo hiểm xã hội, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Sang về việc yêu cầu BHXH thoái thu số tiền đóng trùng bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2012 đến tháng 3/2012 tại số sổ bảo hiểm T132139464 mang tên Nguyễn Thị S theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ là 1.233.540đ (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi đồng) và số tiền thoái thu trả cho người lao động thực tế là chị Thanh là phù hợp.

Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39; Điều 367; khoản 1 Điều 149, điều 401, điều 402 BLTTDS năm 2015; Điều 122, 132, 410 Bộ luật dân sự 2005; Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị S.

Tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam và chị Nguyễn Thị S vào tháng 01/2012 đến tháng 03/2012 (Do chị Hoàng Thị Phương Thanh mượn hồ sơ) với mã số bảo hiểm T132139464 là vô hiệu toàn bộ.

- Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Thoái thu thời gian đóng trùng bảo hiểm từ tháng 01/2012 đến tháng 03/2012 của sổ bảo hiểm số T132139464, cấp tại Công ty TNHH KEE EUN Việt Nam. Số tiền thoái thu căn cứ theo sự tính toán Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ là 1.233.540đ (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi đồng) trả lại cho chị Hoàng Thị Phương Thanh.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Sang đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005770 ngày 26/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ