- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với ông Bùi Hồng T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Bùi Kim D.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2024/QĐST-DS | Cái Răng, ngày 10 tháng 7 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang.
Thư ký phiên họp: Ông Phan Văn Khải- Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên họp: Ông Tô Minh Phú- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Cái Răng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 11/2023/TLST-VDS ngày 05/12/2023 về yêu cầu "Tuyên bố một người bị mất tích" theo Quyết định mở phiên họp số: 220/QĐST-VDS ngày 01/7/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Kim D; sinh năm: 1974. Địa chỉ: Số B khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Ông Bùi Hồng T; sinh năm: 1969. Nơi cư trú cuối cùng: Số E khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
2.2 Bà Lê Thị T1; sinh năm: 1927. Địa chỉ: Số E khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
2.3 Bà Lê Thị C; sinh năm: 1972. Địa chỉ: Số E khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2.4. Ông Bùi Thế H; sinh năm: 1949. Địa chỉ: A Khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2.5 Bà Bùi Kim L; sinh năm: 1954. Địa chỉ: A khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2.6 Ông Bùi Văn T2; sinh năm: 1954. Địa chỉ: E ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2.7 Ông Bùi Văn T3; sinh năm: 1960. Địa chỉ: E khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
2.8 Bà Bùi Kim H1; sinh năm: 1964. Địa chỉ: E ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo người yêu cầu là bà Bùi Kim D cho rằng:
Bà là con của ông Bùi Văn K; sinh năm: 1924; chết năm 2019 và mẹ là bà Lê Thị T1; sinh năm: 1927.
Cha mẹ bà có 10 người con là:
1/ Ông Bùi Thế H; sinh năm: 1949.
2/ Bà Bùi Kim L; sinh năm: 1954.
3/ Ông Bùi Văn T2; sinh năm: 1954.
4/ Ông Bùi Văn T3; sinh năm: 1960.
5/ Bà Bùi Thị T4; chết năm 04 tuổi.
6/ Bà Bùi Kim H1; sinh năm: 1964.
7/ Ông Bùi Hồng P; sinh năm: 1967; chết năm 2009.
8/ Ông Bùi Hồng T; sinh năm: 1969.
9/ Bà Bùi Kim Y; sinh năm: 1970.
10/ Bà là Bùi Kim D; sinh năm: 1974.
Trước đây, ông Bùi Hồng T sống cùng nhà với cha mẹ và vợ chồng ông Bùi Hồng P, bà Lê Thị C tại nhà số E khu V Y, phường T, quận C. Khi ông T được 18 tuổi, học xong lớp 12 thì bỏ nhà đi khỏi địa phương, không còn liên lạc với gia đình cho đến nay.
Nay mẹ bà đã già, muốn chuyển quyền sử dụng đất cho con là Bùi Kim Y nên bà yêu cầu Toà án tuyên bố ông Bùi Hồng T bị mất tích để gia đình làm thủ tục giấy tờ đất đai.
Theo lời khai của các anh chị em của ông Bùi Hồng T đều thừa nhận rằng: ông Bùi Hồng T trước đây sống cùng nhà với cha mẹ và vợ chồng ông Bùi Hồng P, bà Lê Thị C; tuy nhiên, do ông T giận cha mẹ nên đã bỏ nhà đi từ năm 18 tuổi cho đến nay, không rõ đi đâu và không còn liên lạc với gia đình cha mẹ hay anh chị em nữa. Nay ông, bà đều đồng ý tuyên bố ông Bùi Hồng T mất tích.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự là phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: do ông Bùi Hồng T đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Bùi Hồng T còn sống hay đã chết; do đó, người có quyền, lợi ích liên quan là bà Bùi Kim D yêu cầu Toà án tuyên bố ông Bùi Hồng T bị mất tích là có cơ sở.
Đề nghị Thẩm phán căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Kim D, tuyên bố ông Bùi Hồng T bị mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Cái Răng nhận định:
Bà Bùi Kim D cho rằng: anh ruột của bà là ông Bùi Hồng T; sinh năm: 1969, có nơi cư trú cuối cùng tại số E khu vực Y, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ đã bỏ địa phương đi biệt tích từ năm 1987 đến nay, không còn liên lạc với gia đình, không biết tin tức xác thực còn sống hay đã chết; vì vậy, bà yêu cầu tuyên bố ông Bùi Hồng T bị mất tích để gia đình bà làm thủ tục giấy tờ đất đai. Do đó, yêu cầu của bà D thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo xác nhận ngày 18/9/2023 của Trưởng khu vực Y, phường T, quận C và xác nhận của của Công an phường T, quận C, thành phố Cần Thơ thì ông Bùi Hồng T là con của ông Bùi Văn K và bà Lê Thị T1. Tuy nhiên, ông Bùi Hồng T đã bỏ địa phương đi từ năm 2003 đến nay, không rõ tung tích.
Ngày 01/11/2023, bà Bùi Kim D đã đăng tin tìm kiếm ông Bùi Hồng T trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có tin tức gì của ông T.
Sau khi thụ lý việc dân sự trên, ngày 21/02/2024, Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã ra Quyết định số 01/2024/TB.TA về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Bùi Hồng T, đã đăng tin trên cổng thông tin điện tử; đăng tin trên B ngày 23, 24, 25 tháng 02 năm 2024 và phát sóng trên Trung tâm T5 vào ngày 27, 28, 29 tháng 02 năm 2024 theo quy định tại khoản 2 Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, cho đến nay đã quá thời hạn 04 tháng nhưng vẫn không kết quả, không có tin tức gì của ông Bùi Hồng T.
Do đó, xét thấy ông Bùi Hồng T đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông T còn sống hay đã chết nên bà Bùi Kim D là người có quyền, lợi ích liên quan với ông T có yêu cầu tuyên bố ông T mất tích là có cơ sở nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Bùi Kim D phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Bùi Kim D.
Tuyên bố: Ông Bùi Hồng T; sinh năm: 1969. Nơi cư trú cuối cùng: Số E khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ, mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm:
Bà Bùi Kim D phải chịu 300.000đ lệ phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí bà D đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0003083 ngày 22/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng. Bà D đã nộp xong lệ phí.
3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định đối với đương sự có mặt tại phiên họp, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết đối với đương sự vắng mặt tại phiên họp; các đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự này để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
4. Trường hợp ông Bùi Hồng T trở về hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố ông Bùi Hồng T mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Cần Thơ;. - VKSND Q. Cái Răng; - UBND P. Thường Thạnh; - Chi cục THA Q. Cái Răng - Người TGTT. - Lưu HS – BA. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thùy Trang |