- Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc S"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc S. Tại Cơ sở Cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên.
- Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục Tòa án nhân…; Điều 23 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục Tòa án nhân…; Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| —————— Số: 06/2024/QĐ-TA | Tuy Hòa, ngày 26 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Việc đưa người nghiện ma túy
từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Đỗ Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Thanh Nguyệt – Thẩm tra viên
Ngày 26 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy
Hòa tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 03/2024/QĐ-TA ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với:
Nguyễn Quốc S, sinh ngày 09/8/2006, tên gọi khác: M; Nghề nghiệp:
Không; Địa chỉ: Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Con ông Nguyễn Hữu S (chết) và bà Nguyễn Thu L (chết).
Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 27/12/2023, Công an phường P ra Quyết định xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 23/01/2024, Công an phường P ra Quyết định xử phạt 875.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Những người tham gia phiên họp:
1. Người bị đề nghị: Nguyễn Quốc S, sinh ngày 09/8/2006, tên gọi khác: M; Nghề nghiệp: Không; Địa chỉ: Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Đại diện hợp pháp của Nguyễn Quốc S: Ông Nguyễn D, sinh năm 1966 (ông ngoại); Địa chỉ: Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Chí Hùng – Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Tuy Hòa. Có mặt.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa: Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Quốc S, sinh ngày 09/8/2006 là đối tượng sử dụng ma túy từ tháng 11/2023, loại ma tuý đá. Ngày 26/12/2023, S bị lập biên bản vi phạm về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Công an phường P đã tiến hành test nhanh, kết quả S dương tính với ma tuý, loại ma túy đá. Ngày 27/12/2023, Nguyễn Quốc S bị xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 22/01/2024, S bị lập biên bản vi phạm về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Công an phường P đã tiến hành test nhanh, kết quả S dương tính với ma tuý, loại ma túy đá. Ngày 23/01/2024, Nguyễn Quốc S bị xử phạt vi phạm hành chính 875.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 24/01/2024, Trung tâm Y tế thành phố Tuy Hoà có văn bản xác định S nghiện ma tuý đá. Ông ngoại của Nguyễn Quốc S là ông Nguyễn D có đơn gửi UBND phường P, thành phố Tuy Hoà đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện, thời gian dự kiến là 06 tháng. Ủy ban nhân dân phường P đã ban hành Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 23/QĐ-UBND ngày 24/01/2024 đối với Nguyễn Quốc S.
Ngày 31/01/2024, Công an phường P xác minh S không thực hiện cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma tuý và trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên.
Ngày 01/02/2024, Uỷ ban nhân dân phường P lập biên bản số 02/BB-VPHC về việc vi phạm cai nghiện tự nguyện của S. Ngày 01/02/2024, Chủ tịch UBND phường P, thành phố T ra Quyết định 26/QĐ-UBND, có hiệu lực từ ngày 01/02/2024, giao Cơ sở Cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên và gia đình ông Nguyễn D phối hợp hỗ trợ, quản lý Nguyễn Quốc S từ ngày 01/02/2024 đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án.
Ngày 01/02/2024, Chủ tịch UBND phường P có văn bản đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Tuy Hoà xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc S.
Ngày 05/02/2024, Trưởng phòng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Tuy Hòa đã có văn bản số 96/ĐN- CNBB về việc “Xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi” đối với Nguyễn Quốc S.
Tại phiên họp:
Đại diện phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Tuy Hòa đề nghị Tòa án xem xét, đề nghị thời gian cai nghiện bắt buộc thời gian từ 06 tháng đến 12 tháng đối với Nguyễn Quốc S.
Quyết định mở phiên họp được Tòa án tống đạt hợp lệ cho Nguyễn Quốc S nhưng S yêu cầu giải quyết vắng mặt, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại đơn xin giải quyết vắng mặt, người đại diện hợp pháp của Nguyễn Quốc S là ông Nguyễn D trình bày: Gia đình ông D hoàn cảnh khó khăn nên không có tiền cho S đi cai nghiện tự nguyện, Ông D đồng ý để S đi cai nghiện bắt buộc.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết đảm bảo đúng quy định. Trường hợp của Nguyễn Quốc S thuộc trường hợp “Người đã có quyết định cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng mà không thực hiện cai nghiện” theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 3; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021, thuộc trường hợp theo quy định tại Điều 33 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Tuy Hòa, đã đủ căn cứ để đưa người bị đề nghị đi cai nghiện tại cơ sở bắt buộc.
Căn cứ Điều 33 Luật phòng, chống ma túy; khoản 4 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc S trong thời hạn từ 09 tháng đến 12 tháng, thời hạn được tính từ ngày người bị đề nghị bị quản lý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 01/02/2024. Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Tuy Hòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa và lời trình bày của người bị đề nghị Nguyễn Quốc S, người đại diện hợp pháp của Nguyễn Quốc S:
Về tố tụng: Người bị đề nghị Nguyễn Quốc S và ông Nguyễn D là người đại diện hợp pháp của Nguyễn Quốc S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định mở phiên họp nhưng vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Gọi tắt là Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15), Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt người bị đề nghị Nguyễn Quốc S và ông Nguyễn D.
Về trình tự thủ tục áp dụng: Căn cứ vào kết quả test nhanh ngày 26/12/2023 và 22/01/2024, Biên bản vi phạm hành chính lập ngày 26/12/2023 và 22/01/2024, Phiếu xét nghiệm của Trung tâm y tế thành phố Tuy Hoà; Ngày 24/01/2024, Trung tâm Y tế thành phố Tuy Hoà có văn bản xác định Nguyễn Quốc S nghiện ma tuý đá (MET).
Ngày 24/01/2024, Nguyễn Quốc S đăng ký cai nghiện tự nguyện, thời gian cai nghiện 06 tháng tại Cơ sở cai nghiện và trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên. Ủy ban nhân dân phường P cũng đã ban hành Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 23/QĐ-UBND đối với Nguyễn Quốc S.
Tuy nhiên, Nguyễn Quốc S không thực hiện cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện và trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên là vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Luật phòng, chống ma túy 2021. Sau đó, UBND phường P, thành phố Tuy Hoà đã lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Quốc S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trường hợp của Nguyễn Quốc S thuộc trường hợp “Người đã có quyết định cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng mà không thực hiện cai nghiện” theo điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy (Gọi tắt là Nghị định 116/2021/NĐ-CP) và Điều 33 Luật phòng, chống ma túy.
Xét hồ sơ đề nghị phù hợp với quy định tại Điều 34 Luật phòng, chống ma tuý và Điều 51 Nghị định 116/2021/NĐ-CP.
Nguyễn Quốc S, sinh ngày 09/8/2006, chưa đủ 18 tuổi nhưng đã có tiền sử nhiều lần sử dụng ma tuý, bắt đầu sử dụng từ tháng 11/2023. Hành vi không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện của Nguyễn Quốc S ảnh hưởng trực tiếp làm cho sức khoẻ sa sút, từ bỏ cơ hội học tập, kinh tế gia đình lâm vào cảnh khó khăn, gây ảnh hưởng đến trật tự trong lĩnh vực quản lý hành chính, góp phần gây hệ luỵ xấu cho xã hội. Nguyễn Quốc S không đủ khả năng để tự mình cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, nên cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm hỗ trợ Nguyễn Quốc S cai nghiện, từ bỏ chất ma túy, học tập, rèn luyện bản thân và tái hoà nhập cộng đồng.
Từ các nội dung nêu trên, căn cứ các Điều 33, 34 Luật phòng, chống ma túy; điểm a, khoản 1 Điều 33; Điều 51 Nghị định 116/2021/NĐ-CP; Điều 20 và Điều 23 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Tuy Hòa về việc “Đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Nguyễn Quốc S.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc S. Tại Cơ sở Cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên. Địa chỉ: Thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 09 (Chín) tháng, kể từ ngày 01/02/2024 là ngày Nguyễn Quốc S bị quản lý tại Cơ sở Cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định.
- Người bị đề nghị, người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại Quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận Quyết định.
- Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; Phòng lao động - Thương binh và xã hội thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; Cơ sở Cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên.
| Nơi nhận: - - Phòng LĐ - TB và XH TP. Tuy Hòa; - - Người bị đề nghị; - - Đại diện hợp pháp của người bị đề nghị; - - Công an TP. Tuy Hòa; - - Công an phường P, TP. Tuy Hòa; - - UBND phường P, TP. Tuy Hòa; - - VKSND TP. Tuy Hòa; - - Lưu HS. | THẨM PHÁN Đỗ Thị Thúy Hằng |