vanban.org

Quyết định 06/2024/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/01/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố

T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1710/2023/QĐST- Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "KIM CƯƠNG - SONG ĐẠT"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2024/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG NGHỊ ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Thảo

Các Thẩm phán

Bà Đỗ Thị Hòa

Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Trúc Thương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

họp: Bà Nguyễn Thị Kim Tiển - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số

1710/2023/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố

T, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào Điều 48; điểm c khoản 1 Điều 217;

Điều 218; Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng góp

vốn” giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lê Kim C, sinh năm: 1970.

Địa chỉ: Số Y khu phố C, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Địa chỉ liên lạc: Số X đường A, Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Thế T, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Số Z đường L1, phường V, quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty TNHH Một thành viên xây dựng – Thương mại S.

Địa chỉ: Số W đường L2, Phường K, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Q, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Số Q đường F2, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hoàng Bá C, sinh năm 1960;

Địa chỉ: Số O đường S2, cư xá K2, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Địa chỉ liên lạc: Nhà số Z2 đường I2, khu phố J, phường TP, Quận O1,

Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ông Đinh Văn D

Địa chỉ: Số X2 đường U, Phường Q, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Ông Nguyễn Quốc Q

Địa chỉ: Số Y2 đường S, Phương F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Quyết định kháng nghị ngày 13 tháng 6 năm 2023, Viện Trưởng Viện

kiểm sát nhân dân Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Quyết định đình chỉ trên với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 1710/2023/QĐST-DS ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố T và giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Tòa án nhân dân Thành phố T ra Quyết định đình chỉ giải

quyết vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng góp vốn giữa nguyên đơn Nguyễn Lê Kim C và bị đơn Công ty TNHH Một thành viên Xây dựng - Thương mại S là không đúng quy định của pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Nhận thấy: Tại đơn khởi kiện ngày 16/11/2019 bà Nguyễn Lê Kim C ghi

địa chỉ thường trú tại Y, khu phố C, phường P, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh và địa chỉ liên lạc tại số X đường A, Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Nguyễn Lê Kim C không đăng ký thường trú, tạm trú và không thực tế cư trú tại số X đường A, Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Tòa án nhân dân Thành phố T không tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà C tại địa chỉ số X đường A, Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng theo quy định Điều 177, 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút một phần quyết định kháng nghị đối với nội dung kháng nghị này.

Đối với các nội dung kháng nghị còn lại:

Vụ án được Tòa án thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân phường R về

tình trạng xây dựng trên đất đang tranh chấp và Ủy ban nhân dân phường R có văn bản phúc đáp số 61/UBND ngày 24/3/2021 là thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm không chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử để phân công kiểm sát viên tham gia phiên tòa, nhưng trên quyết định hoãn phiên tòa số 1897/2023/QĐST-DS ngày 26/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2789/2023/QĐST-DS ngày 31/5/2023 lại ghi đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên là không đúng thực tế diễn biến phiên tòa và đã vi phạm khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Tòa án đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng nguyên đơn

vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Trường hợp này theo quy định tại khoản 2 Điều 219 và 2 Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, nhưng Quyết định Đình chỉ vụ án trên chỉ do Thẩm phán ký là không đúng quy định pháp luật.

Quyết định đình chỉ số 1710/2023/QĐST-DS ngày 31/5/2023 không ghi

nhận đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự

theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quyết

định cũng không ghi đầy đủ tên những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là

không đúng theo mẫu sổ 46-DS (Ban hành kèm theo Nghị Quyết số

01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân Tối cao).

Do Tòa án cấp sơ thẩm có nhiều thiếu sót và vi phạm nghiêm trọng thủ tục

tố tụng. Đề nghị Hội đồng chấp nhận các nội dung kháng nghị này của Viện

kiểm sát nhân dân Thành phố T, hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số

1710/2023/QĐST-DS ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố T, Thành

phố Hồ Chí Minh.

XÉT THẤY:

Về thời hạn kháng nghị: Ngày 31/5/2023, Tòa án nhân dân Thành phố T

ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 1710/2023/QĐST-DS; Ngày

13/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố T có quyết định kháng nghị đối

với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trên. Như vậy, kháng nghị của Viện

kiểm sát nhân dân Thành phố T trong thời hạn luật định và hợp lệ, nên được

chấp nhận.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố T, Hội đồng phúc

thẩm thấy rằng:

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

đã rút một phần kháng nghị. Hội đồng xét quyết định Đình chỉ một phần kháng

nghị đã rút.

Vụ án được Tòa án thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân phường R về

tình trạng xây dựng trên đất đang tranh chấp và Ủy ban nhân dân phường R có

văn bản phúc đáp số 61/UBND ngày 24/3/2021 là thuộc trường hợp Viện kiểm

sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2015, nhưng sau khi tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

1298/2023/QĐXXST-DS, ngày 31/3/2023 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

2236/2023/QĐXXST-DS ngày 12/5/2023, lại không chuyển hồ sơ và gửi các

Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát nhân dân Thành phố T để

tham gia phiên tòa là vi phạm quy định khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân

sự năm 2015.

Tòa án không chuyển hồ sơ và Viện kiểm sát không phân công Kiểm sát

viên tham gia phiên tòa, nhưng trên Quyết định hoãn phiên tòa số

1897/2023/QĐST-DS ngày 26/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số

2789/2023/QĐST-DS ngày 31/5/2023 lại ghi đại diện Viện kiểm sát tham gia

phiên tòa bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên là không đúng thực tế diễn

biến phiên tòa.

Ngoài ra, Tòa án đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng

nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Trường hợp này

theo quy định tại khoản 2 Điều 219 và 2 Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015, thì Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

dân sự, nhưng Quyết định Đình chỉ vụ án trên chỉ do Thẩm phán ký là không đúng quy định pháp luật.

Xét, theo quy định tại khoản 2 Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

trong trường hợp này nếu đình chỉ giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử phải thảo luận, thông qua tại phòng nghị án, lập thành văn bản và Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm trong cùng một ngày đã ban hành 2 quyết định vừa hoãn phiên tòa, vừa đình chỉ là đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Quyết định đình chỉ số 1710/2023/QĐST-DS ngày 31/5/2023 không ghi

nhận đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Mặt khác, trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử có tên những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nhưng trong Quyết định đình chỉ không có tên những người này là không đúng theo mẫu sổ 46-DS (Ban hành kèm theo Nghị Quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao), Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Như vậy, Tòa án nhân dân Thành phố T đình chỉ giải quyết vụ án về việc:

“Tranh chấp hợp đồng góp vốn” là không đúng quy định của pháp luật.

Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

đề nghị hủy Quyết định đình chỉ trên là có căn cứ nên được chấp nhận.

Từ các phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy có căn cứ để chấp

nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố T, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 1710/2023/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do hủy quyết định sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí dân

sự phúc thẩm theo quy định.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố

T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1710/2023/QĐST-

DS ngày 31tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.

4. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ