vanban.org

Quyết định 06/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 09/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị X, tuyên bố bà Trần Thị Y, sinh năm 19xx; nơi cư trú trước khi biệt tích: Thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị X phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tạm ứng lệ phí tòa án số 0008208, ngày 11 tháng 10 năm 2022. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có mặt tại phiên họp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Trần Thị Hằng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị X, tuyên bố bà Trần Thị Y, sinh năm 19xx; nơi cư trú trước khi biệt tích: Thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng mất tích.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2023/QĐST-VDSThủy Nguyên, ngày 09 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lương Ngọc Anh.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải

Phòng tham gia phiên họp: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 89/2023/TLST-VDS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2023/QĐST-VDS ngày 20 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-VDS ngày 01 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị X, sinh năm 19xx; địa chỉ: Thôn 5, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặtmặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Thị H, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Chị Trần Thị N, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, bà Trần Thị X (người có đơn yêu cầu) trình bày: Bà Trần Thị X có bố mẹ đẻ là ông Trần Văn C và bà chị ruột tên là bà Trần Thị Y, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Bà Trần Thị Y bỏ nhà đi biệt tích từ năm 1993 đến năm 2017 bà Y có trở về nhà một lần sau đó bỏ đi biệt tích đến nay không lần nào trở về gia đình. Gia đình bà Trần Thị X, đã tìm kiếm khắp nơi nhưng từ đó đến nay không có kết quả, không có tin tức gì về bà Trần Thị Y hiện ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết. Bà Trần Thị X đã đề nghị Tòa án đăng phát thông tin trên đài báo, đã qua 04 tháng nhưng không có tin tức gì về bà Trần Thị Y hiện ở đâu, còn sống hay đã chết. Nay bà Trần Thị X yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Y, sinh năm 1975; địa chỉ trước khi biệt tích: Thôn C, xã A, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là mất tích.

Tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị H và Trần Thị N vắng mặt, song đã có lời khai tại Tòa án như sau:

Bố mẹ đẻ chúng tôi là ông Trần Văn C (chết năm 2020) và bà Lương Thị T (chết năm 2016). Quá trình chung sống bố mẹ chúng tôi có sinh được 04 người con gồm: Trần Thị Y, Trần Thị H, Trần Thị X và Trần Thị N. Từ ngày 18/3/1993, chị Trần Thị Y bỏ nhà đi biệt tích đến năm 2017, chị Hằng có trở về nhà một lần sau đó bỏ đi biệt tích đến nay không có tin tức gì và cũng chưa một lần nào trở về nhà. Từ khi chị Trần Thị Y bỏ nhà đi đến nay, bố mẹ, chị em chúng tôi cũng như họ hàng đã đi tìm kiếm nhiều lần, hỏi han những người thân quen ở nhiều nơi nhưng không hề có bất kỳ tin tức gì về việc chị Trần Thị Y còn sống hay đã chết. Gia đình chúng tôi cũng đã đăng báo, đài tìm kiếm nhưng đều không có kết quả.

Nay, thời gian chị Trần Thị Y bỏ đi biệt tích đến nay đã hơn 5 năm và chị Trần Thị X có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố chị Trần Thị Y, sinh năm 1975; nơi cư trú cuối cùng: Thôn C, xã A, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng là mất tích. Quan điểm của của chúng tôi là đồng ý với yêu cầu của chị là Trần Thị X và đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo yêu cầu của bà Trần Thị X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nhận định:

Về tố tụng: Bà Trần Thị X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị H và Trần Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ vào khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt bà X, và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hà và bà Nguyệt. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là bà Trần Thị Y có nơi cư trú trước khi biết tích: Thôn C, xã A, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 27, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Trần Thị Y, sinh năm 1975; nơi cư trú trước khi biệt tích: Thôn C, xã A, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã biệt tích 5 (năm) năm liền trở lên. Thời hạn biết được tin tức cuối cùng về bà Trần Thị Y được xác định là ngày 31 tháng 12 năm 2017. Mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự như đăng nhắn tin trên Báo Nhân dân trong ba số liên tiếp là số 85, 86 và 87 ngày đăng đầu tiên 26 tháng 10 năm 2022; đăng phát tin trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong ba ngày liên tiếp vào các ngày 18, 19 và 20 tháng 10 năm 2022 và đăng trên Cổng thông tin điện tử Thành phố Hải Phòng và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao. Thời hạn thông báo là bốn tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên. Đến nay đã kết thúc thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Trần Thị Y còn sống hay đã chết. Do vậy theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị X.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự như sau: Kể từ khi thụ lý việc dân sự Thẩm phán đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật, các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên họp chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị X, tuyên bố bà Trần Thị Y mất tích. Bà Trần Thị X phải nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bà Trần Thị X phải nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 27, Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 367, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

- Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị X, tuyên bố bà Trần Thị Y, sinh năm 19xx; nơi cư trú trước khi biệt tích: Thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị X phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tạm ứng lệ phí tòa án số 0008208, ngày 11 tháng 10 năm 2022.

- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

- Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ