vanban.org

Quyết định 06/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Văn L về việc yêu cầu tuyên bố chị Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Lê Văn L - Lương Thị Q"
  • Tòa quyết gì? 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2023/QĐST-VDSHuyện Dương Minh Châu, ngày 22 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Cẩm Hà.

Thư ký phiên họp: Bà Võ Thị Tuyết Mai - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh

tham gia phiên họp: Bà Lâm Phượng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh

Châu, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 10/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2022 về việc yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2023/QĐST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn L, sinh năm 1988, cư

trú tại: Tổ 5, ấp T, xã T, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Lê Văn L: Ông Võ Văn S, sinh năm

1971, cư trú tại: Khu phố 3, Phường 3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Hợp đồng ủy quyền ngày 13-12-2022) (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 15-12-2022 và lời trình bày

trong hồ sơ, anh Lê Văn L và ông Võ Văn Sỹ trình bày:

Anh Lê Văn L và chị Lương Thị Q chung sống với nhau, có đăng ký kết

hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh L và chị Q cùng nhau sinh sống tại ấp T, xã T, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh và có với nhau một con chung tên Lê Trường V, sinh ngày 14-5-2007. Đến khoảng tháng 4-2009, chị Lương Thị Q tự ý mang theo cháu V bỏ nhà rời khỏi địa phương, đi đâu không rõ. Anh L đã tìm kiếm nhiều lần nhưng không tìm thấy và cũng không có tin tức gì. Chị Q đi biệt tích, gia đình có báo tin cho chính quyền địa phương, cũng không có tin tức xác thực về việc chị Lương Thị Q còn sống hay đã chết.

Nay anh yêu cầu tuyên bố chị Lương Thị Q, sinh năm 1983, địa chỉ cư trú

cuối cùng: ấp T, xã T, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh mất tích. Lý do, chị Lương Thị Q đã biệt tích từ tháng 4 năm 2009. Trong quá trình giải quyết việc dân sự, anh L xác định chị Q biệt tích từ tháng 4 năm 2009 đến nay không có tin tức, không có liên lạc gì với gia đình. Mục đích yêu cầu tuyên bố chị Lương Thị Q để làm thủ tục ly hôn và không có yêu cầu nào khác.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu,

tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố

tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm mở phiên họp. Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký phiên họp tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người tham gia phiên họp có đơn xin vắng mặt, chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; Điều 149, 384, 385, 388,

389, 390 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 36 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

+ Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn L về yêu cầu tuyên bố một người mất

tích đối với chị Lương Thị Q.

+ Về lệ phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được

thẩm tra tại phiên họp; lời trình bày của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Anh Lê Văn L là chồng chị Lương Thị Q, sinh năm 1983, địa chỉ cư trú

cuối cùng: ấp T, xã T, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Chị Lương Thị Q mang theo con chung là cháu Lê Trường V bỏ nhà ra đi vào tháng 4 năm 2009. Anh Lê Văn L xác định thời gian chị Lương Thị Q biệt tích là tháng 4 năm 2009, cho đến hiện tại không thấy về, anh L đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức xác thực là chị Q không có tin tức xác thực về việc chị Q còn sống hay đã chết. Nay anh Lê Văn L yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lương Thị Q đã mất tích.

Ngày 26-12-2022, Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây

Ninh ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích số: 01/2022/QĐ-TA. Sau đó, trên cơ sở yêu cầu của anh L, Tòa án đã tiến hành các thủ tục:

Đăng phát, thông báo trên Báo Nhân Dân ngày 12, 13, 14 tháng 01

năm 2023. Phát thông tin tìm kiếm chị Lương Thị Q trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam vào lúc 17 giờ 30 – 18 giờ, ngày 29, 30, 31 tháng 12 năm 2022. Đăng phát, thông báo trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao theo đúng quy định tại Điều 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hết thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Lương Thị Q. Như vậy, kể từ ngày chị Lương Thị Q bỏ đi cho đến nay đã hơn 13 năm liền nhưng không có tin tức xác thực về việc chị Q còn sống hay đã chết. Vì vậy, anh Lê Văn L yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lương Thị Q mất tích là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự nên yêu cầu của anh L được chấp nhận.

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai, lời trình bày của anh Lê Văn L

thì chị Lương Thị Q bỏ đi biệt tích vào tháng 4 năm 2009. Như vậy, quy định theo khoản 1, Điều 68 của Bộ luật Dân sự thì ngày 01 tháng 5 năm 2009 là ngày phát sinh sự kiện pháp lý, ngày chị Lương Thị Q bỏ đi biệt tích và kể từ ngày đó cho đến nay không có tin tức xác thực là chị Lương Thị Q còn sống hay đã chết. Nên ngày mất tích của chị được xác định là ngày 01 ngày 5 năm 2009.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh

Châu, tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của chủ tọa phiên họp nên ghi nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 37

của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, anh Lê Văn L phải chịu lệ phí Tòa án.

Anh Lê Văn L phải chịu các khoản chi phí tố tụng khác theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27; Điều 149; Điều 384, Điều 385; Điều 387; Điều

388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 68 và Điều 69 của Bộ luật Dân sự;

Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-

2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Văn L về việc yêu cầu tuyên bố chị

Lương Thị Q mất tích.

Tuyên bố chị Lương Thị Q, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú trước khi biệt

tích: Tổ 5, ấp T, xã T, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh mất tích vào ngày 01 ngày 5 năm 2009.

2. Về lệ phí: Anh Lê Văn L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng lệ phí

yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm mà anh L đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012898 ngày 15 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; anh L đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Về chi phí tố tụng khác: Anh Lê Văn L phải chịu 8.000.000 (tám triệu)

đồng chi phí thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Ghi nhận anh Lê Văn L đã nộp xong.

4. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định

giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ