- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yeu cau tuyen bo mot nguoi mat tich"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị H về việc “Tuyên bố một người mất tích” đối với ông Lâm T.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2023/QĐST-DS | Long Thành, ngày 28 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: “Tuyên bố một người mất tích”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Tấn Cảnh.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hoài Diễm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên họp:
Ông Lê Viết Xuân- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 255/2022/TLST-VDS ngày 19 tháng 10 năm 2022. Về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 15/2023/QĐST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1953.
Nơi cư trú: Tổ 5, khu Phước L, thị trấn Long T, huyện Long T, tỉnh Đồng N.
- Người bị yêu cầu: Ông Lâm T, sinh năm: 1950.
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 5, khu Phước L, thị trấn Long T, huyện Long T, tỉnh Đồng N.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lâm Cẩm H, sinh năm: 1979.
Nơi cư trú: Tổ 21, khu Văn H, thị trấn Long T, huyện Long T, tỉnh Đồng N.
(Bà H, bà H có đơn xin vắng mặt, ông Tvắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 12/10/2022, bản tự khai ngày 28/10/2022 người yêu cầu bà Lê Thị H trình bày:
Bà và ông Lâm T chung sống với nhau từ năm 1978, không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng cùng chung sống tại tổ 5, khu Phước L, thị trấn Long T, huyện Long T, tỉnh Đồng N. Đến năm 1980, ông T đã bỏ nhà đi và từ đó đến nay ông không về, gia đình bà không rõ ông T đi đâu, làm gì và cư trú tại đâu? Gia đình đã có tìm kiếm nhiều nơi và đã thông báo tìm kiếm ông T trên Báo Thanh Niên vào các ngày 09/11/2022, 10/11/2022 và ngày 11/11/2022 nhưng đến nay vẫn không có thông tin gì của ông T. Nay, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lâm T mất tích.
Về tài sản của ông T: Bà không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông T.
- Tại bản tự khai ngày 28/10/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Cẩm H trình bày: Bà là con ruột của ông T, bà H. Ông T đã bỏ nhà đi đâu, làm gì và cư trú tại đâu bà hoàn toàn không biết. Gia đình đã có tìm kiếm ông T nhiều nơi nhưng không có kết quả. Việc bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lâm T mất tích bà đồng ý, không có ý kiến gì.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ và tiến hành tố tụng đúng quy định. Thẩm phán chủ tọa phiên họp, Thư ký phiên họp tiến hành tố tụng đúng quy định. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được đảm bảo thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định.
Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, đề nghị Thẩm phán chủ tọa phiên họp áp dụng khoản 3 Điều 27, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H về việc tuyên bố ông Lâm T mất tích. Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông Lâm T: Bà H không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Long Thành nhận định:
Về tố tụng:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt theo quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Lê Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lâm T mất tích nên xác định quan hệ pháp luật của việc dân sự là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là ông Lâm T có nơi cư trú cuối cùng tại: Tổ 5, khu Phước L, thị trấn Long T, huyện Long T, tỉnh Đồng N nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Bà Lê Thị H và ông Lâm T chung sống với nhau từ năm 1978, không có đăng ký kết hôn. Bà H và ông T cùng sinh sống tại Tổ 5, khu Phước Long, thị trấn Long T, huyện Long T, tỉnh Đồng N. Đến ngày 06/4/2018, ông Lâm T đã bỏ nhà đi biệt tích đến nay không về, bà H đã tìm kiếm nhiều nơi và đã làm các thủ tục tìm kiếm nhưng không có kết quả.
Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 999/2022/QĐ-TA ngày 28/10/2022 thông báo tìm kiếm đối với ông Lâm T, sinh năm 1950 đã được đăng trên báo Thanh Niên trong ba số liên tiếp từ ngày 09/11/2022 đến ngày 11/11/2022 và phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh 03 lần trong 03 ngày liên tiếp từ ngày 14/11/2022 đến ngày 16/11/2022. Từ ngày đăng báo đầu tiên là ngày 09/11/2022 cho đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng nhưng vẫn không có tin tức gì của ông Lâm T, bản thân ông T cũng không thông tin gì về cho gia đình, ông T đã biệt tích 02 (hai) năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức xác thực về ông Lâm T.
Từ những phân tích trên, việc bà Lê Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lâm T mất tích là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự và Điều 383, Điều 385, Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông Lâm T: Bà Lê Thị H không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản nên không xem xét.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Bà Lê Thị H thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Tòa án nên ghi nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, 361, 367, 370, 371, 372 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị H về việc “Tuyên bố một người mất tích” đối với ông Lâm T.
Tuyên bố: Ông Lâm T, sinh năm 1950. Nơi đăng ký thường trú: Tổ 5, khu Phước L, thị trấn Long T, huyện Long T, tỉnh Đồng N. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 5, khu Phước L, thị trấn Long T, huyện Long T, tỉnh Đồng N mất tích.
2. Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông Lâm T: Không xem xét.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị H thuộc trường hợp được miễn lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Lê Thị H có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định; ông Lâm T có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định hoặc được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Long Thành; - UBND thị trấn Long Thành, huyện Long Thành; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Tấn Cảnh |