vanban.org

Quyết định 06/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trần Thị H

Tuyên bố: ông Lương T, sinh năm 1964, nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã O, huyện C, tỉnh Đắk Lắk mất tích. Hậu quả pháp lý: Người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà Trần Thị H yêu cầu tuyên bố ông Lương T mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trần Thị H
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN CƯM’GAR
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2023/QĐST-DSCưMgar, ngày 22 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐĂKLĂK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp: Bà Lê Thị Huyền Diệu

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’Gar

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên họp: Bà Phạm Thu Thủy – Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư M’gar mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 88/2023/TLST-VDS ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2023/QĐST – VDS ngày 15 tháng 8 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị H, sinh năm 1963, có mặt

Địa chỉ: 16 B, Tổ dân phố A, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương T, sinh năm 1964, vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã O, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và tại phiên họp người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Trần Thị H trình bày:

Bà là nguyên đơn trong vụ án “ Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Lương N, sinh năm 1919, chết năm 2007. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lương N là ông Lương T, sinh năm 1964 (con trai ông Lương N), đã đi khỏi địa phương hơn 05 năm nay không có tin tức gì, bà H đã nhiều cách tìm kiếm nhưng không biết ông Lương T hiện đang ở đâu. Bà Trần Thị H yêu cầu tuyên bố ông Lương T, nơi cư trú cuối cùng: thôn T, xã O, huyện C, tỉnh Đắk Lắk là mất tích để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H trong giải quyết vụ án cũng như các giao dịch dân sự nên bà H cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông Lương T là mất tích.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra Quyết định giải quyết việc dân sự.

Thẩm phán đã thực hiện theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 366, Điều 377 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành các thủ tục đúng theo quy định tại Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, người yêu cầu đã đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ theo đơn yêu cầu tuyên bố ông Lương T mất tích của bà Trần Thị H. Tòa án nhân dân huyện CưMgar đã làm thủ tục thông báo, đăng tin tìm kiếm ông Lương T trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn không có kết quả. Qua xác minh tại địa phương nơi cư trú cuối cùng của ông Lương T là tại Thôn Tiến Phú, xã Quảng Tiến, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk. Bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2018 cho đến nay không có tin tức gì. Như vậy, bà Trần Thị H yêu cầu tuyên bố ông Lương T mất tích là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện CưMgar áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự chấp nhận đơn của bà Trần Thị H, tuyên bố ông Lương T là người mất tích.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Trần Thị H phải chịu tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện CưMgar nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị H yêu cầu Tòa án quyết tuyên bố ông Lương T mất tích. Nơi cư trú cuối cùng của ông Lương T tại: Thôn T, xã O, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CưMgar theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đơn yêu cầu, bản tự khai của người yêu cầu bà Trần Thị H trình bày: ông Lương T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lương N, chết năm 2007 trong vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do bà H khởi kiện. Quá trình xác minh thể hiện ông Lương T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2018, không biết đi đâu, làm gì, không khai báo cho chính quyền địa phương. Bà H đã tìm kiếm nhiều lần nhưng không có tin tức. Vì vậy, bà Trần Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lương T là mất tích.

Tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”

Ngày 12/4/2023 Tòa án nhân dân huyện CưMgar đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 03/2023/QĐ-TA đối với ông Lương T theo đơn yêu cầu của bà Trần Thị H. Đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của ông Lương T. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực ông Lương T còn sống hay đã chết.

Từ các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ, trình bày của đương sự tại phiên họp xét thấy yêu cầu của bà Trần Thị H tuyên bố mất tích đối với ông Lương T là có căn cứ phù hợp với khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.

Về chi phí thông báo, đăng tin và lệ phí:

Về chi phí thông báo, đăng tin: Bà Trần Thị H phải chịu chi phí đăng tin, thông báo tìm kiếm.

Về lệ phí: Bà Trần Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, 371, 372, 388, 389, 390 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68, Điều 70 Bộ luật dân sự 2015; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trần Thị H

Tuyên bố: ông Lương T, sinh năm 1964, nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã O, huyện C, tỉnh Đắk Lắk mất tích.

2. Hậu quả pháp lý: Người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai số AA/2021/0014077 ngày 10 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CưM’gar.

Về chi phí thông báo, đăng tin: Bà Trần Thị H phải chịu 3.025.000 đồng chi phí thông báo, nhắn tin. Bà Trần Thị H đã nộp đủ theo phiếu thu số 07 ngày13/4/2023 của Cơ quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên; Phiếu thu số 760 ngày 21/4/2023 của báo Công lý.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ