vanban.org

Quyết định 06/2023/QĐST-DS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Tuyết L về việc "Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú". Thông báo tìm kiếm bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1975 vắng mặt tại nơi cư trú theo địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số C, ấp B, xã , huyện T, tỉnh Đồng Nai. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Lê Thị Tuyết L - Vắng mặt tại nơi cư trú"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2023/QĐST-DSThống Nhất, ngày 05 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Thùy Trang.

Thư ký phiên họp: Bà Quách Thị Khuyến là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường B - Toà án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 91/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2023, về việc“Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 138/2023/QĐST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Lê Thị Tuyết L

sinh năm 1972

Địa chỉ: Số A, ấp B, xã , huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị Kim A

sinh năm 1975

Nơi cư trú cuối cùng: Số C, ấp B, xã , huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 05 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu - bà Lê Thị Tuyết L trình bày:

Theo bà Lê Thị Tuyết L, bà và bà Lê Thị Kim A là hàng xóm hơn ba mươi năm, nhà bà L cách nhà bà A khoảng bốn căn nhà, hai bên chơi với nhau rất thân (bà L còn là “mẹ đỡ đầu” của con bà A) và giữa hai bên không xảy ra bất cứ mâu thuẫn nào.

Từ khoảng tháng 3/2021 đến tháng 8/2021, bà L có cho bà A vay tiền khoảng bốn lần với tổng số tiền là 1.030.000.000đ (Một tỷ không trăm ba mươi triệu đồng) để bà A có vốn làm ăn buôn bán, mua đất và đáo hạn Ngân hàng. Khi vay, bà A có viết giấy biên nhận số tiền vay và giao cho bà L quản lý, hai bên không thỏa thuận lãi suất mà chỉ thỏa thuận miệng khi nào bà L cần lấy lại tiền thì báo trước cho bà A biết. Đến ngày 22/10/2021, bà L có đến gặp bà A để đòi nợ thì chồng và con của bà A cho biết bà A không có ở nhà và đi đâu không rõ. Do đó, bà L đã nộp đơn tố cáo bà A đến Công an huyện Thống Nhất. Tại Công an huyện Thống Nhất, bà A thừa nhận có vay của bà L số tiền trên nhưng không có khả năng thanh toán. Sau đó, bà L đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà A trả nợ nhưng không được và từ khoảng tháng 02/2022 cho đến nay bà A đã không còn sinh sống tại địa phương.

Nay bà L đề nghị Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1975; nơi cư trú cuối cùng: Số C, ấp B, xã, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Lý do yêu cầu để bà L bổ túc hồ sơ khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Lê Thị Kim A tại Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, Tòa án thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Tuyết L về việc yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1975; nơi cư trú cuối cùng: Số C, ấp B, xã, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Về lệ phí: Bà Lê Thị Tuyết L phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị Tuyết L có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim A nên quan hệ pháp luật là “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú”. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định hiện bà A có nơi cư trú cuối cùng tại xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nên đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai được quy định tại khoản 2 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên họp, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng người yêu cầu giải quyết việc dân sự vắng mặt (có đơn xin vắng mặt); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Xét yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim A:

Theo bà Lê Thị Tuyết L, bà Lê Thị Kim A đã vay của bà L số tiền là 1.050.000.000đ (Một tỷ không trăm năm mươi triệu đồng) để làm ăn nhưng bà A không thanh toán nợ, do đó bà L đã gửi đơn tố cáo bà A đến Công an huyện Thống Nhất. Tại “Thông báo kết quả giải quyết đơn tố cáo” số 726/TB-CSĐT ngày 13/12/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất bà A thừa nhận có nợ của bà L số tiền trên nhưng không có khả năng thanh toán nợ. Mặc dù bà L đã nhiều lần liên hệ để yêu cầu bà A trả nợ nhưng không liên lạc được nên bà L đã nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà A vắng mặt tại nơi cư trú để bổ túc hồ sơ khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà A tại Tòa án.

Qua kết quả xác minh tại Ban ấp B, xã , huyện T, tỉnh Đồng Nai đề ngày 06/3/2023 xác định: “...Bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1975; địa chỉ: C2/092, ấp B, xã , huyện T không còn cư trú, sinh sống tại địa phương từ khoảng tháng 10/2021 đến nay ....” và kết quả xác minh tại Công an xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai cùng ngày 06/3/2023 xác định: “... Từ tháng 02/2022 đến nay bà Lê Thị Kim A không còn cư trú, sinh sống tại địa phương. Hiện nay bà Lê Thị Kim A đang cư trú, sinh sống tại đâu ... thì Công an xã Q không nắm được”. Như vậy, thời điểm bà A không còn cư trú tại địa phương là từ khoảng tháng 02/2022 do thời điểm cuối năm 2021 bà A vẫn đến Công an huyện Thống Nhất để làm việc (theo “Thông báo kết quả giải quyết đơn tố cáo” số 726/TB-CSĐT ngày 13/12/2021).

Từ những phân tích trên, đủ cơ sở để Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Tuyết L về việc yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim A như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên họp là phù hợp.

Về quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: Bà Lê Thị Tuyết L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết việc dân sự phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị Tuyết L phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát được quyền kháng nghị quyết định theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 2 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 383; Điều 384 và Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 64 Bộ luật Dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Tuyết L về việc "Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú".

Thông báo tìm kiếm bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1975 vắng mặt tại nơi cư trú theo địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số C, ấp B, xã , huyện T, tỉnh Đồng Nai.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị Tuyết L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ từ tiền tạm ứng lệ phí sang nộp lệ phí theo biên lai thu số 0009240 ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Bà Lê Thị Tuyết L đã nộp đủ lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ