vanban.org

Quyết định 06/2023/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 05/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích của chị Nguyễn Thị Th.

Tuyên bố anh Vũ Đình Q, sinh năm 1994; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn Th2, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mất tích. Lệ phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đồng chị Th đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Nguyễn Thị Th yêu cầu tuyên bố anh Vũ Đình Q mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích của chị Nguyễn Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2023/QĐDS-STKim Bảng, ngày 05 tháng 9 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: “Tuyên bố một người mất tích”

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Nguyệt.

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Minh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Sen - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2023/TLST-VDS ngày 05 tháng 4 năm 2023, về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2023/QĐST-VDS ngày 29 tháng 8 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Thôn 6, xã Nh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Đình Q, sinh năm 1994.

Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn Th 2, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 09 tháng 3 năm 2023 và bản tự khai tại Tòa án, chị Nguyễn Thị Th là người yêu cầu trình bầy: Chị và anh Vũ Đình Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký ngày 01 tháng 12 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà bố mẹ đẻ anh Q ở thôn Th 2, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Quá trình chung sống, vợ chồng chị sống hoà thuận đến đầu năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Q mải chơi, không chăm lo gia đình, vợ con, vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống và vì kinh tế nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau. Đến đầu tháng 01 năm 2021, anh Q bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn Th2, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cho đến nay đã hơn 2 năm không về chung sống cùng mẹ con chị lần nào nữa, chị cũng không biết tin tức gì về anh Q hiện nay đang làm gì, ở đâu, mặc dù chị và gia đình đã tìm kiếm nhưng không có kết quả. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vũ Đình Q mất tích theo quy định của pháp luật, ngoài ra chị không yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu nào khác.

Tại phiên họp, chị Th giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vũ Đình Q mất tích. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự. Căn cứ Điều 27; Điều 35; Điều 39; Điều 149 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận nội dung đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Th về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vũ Đình Q mất tích. Lệ phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào tạm ứng lệ phí chị Th đã nộp. Chị Th đã nộp đủ tiền lệ phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam nhận định:

Chị Nguyễn Thị Th và anh Vũ Đình Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký ngày 01 tháng 12 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà bố mẹ đẻ anh Q ở thôn Th2, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Quá trình chung sống vợ chồng chị chung sống hoà thuận đến đầu năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Q mải chơi, không chăm lo gia đình, vợ con, vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống và vì kinh tế nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau. Đến đầu tháng 01 năm 2021, anh Q bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn Th2, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cho đến nay đã hơn 2 năm không về chung sống cùng mẹ con chị Th lần nào nữa, chị Th cũng không biết tin tức gì về anh Q hiện nay đang làm gì, ở đâu, mặc dù chị Th và gia đình đã đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm.

Trên cơ sở yêu cầu của chị Th, ngày 21 tháng 4 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 03/2023/QĐ-TA đối với anh Vũ Đình Q được đăng trên báo Công lý 03 số liên tiếp, số 34+35 ngày 28/4/2023, số 36 ngày 05/5/2023 và số 37 ngày 10/5/2023 và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp là các ngày 28/4/2022, ngày 29/4/2023 và ngày 30/4/2023. Nay đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Vũ Đình Q còn sống hay đã chết. Ủy ban nhân dân xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cũng xác nhận anh Vũ Đình Q bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay không có tin tức, không trở về địa phương lần nào. Do đó chị Nguyễn Thị Th yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng tuyên bố anh Vũ Đình Q mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự được chấp nhận.

Chị Nguyễn Thị Th yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vũ Đình Q mất tích, không yêu cầu xem xét, giải quyết vấn đề nào khác nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 371 và 372 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149 Điều 371; Điều 372 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 68 Bộ luật Dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích của chị Nguyễn Thị Th.

Tuyên bố anh Vũ Đình Q, sinh năm 1994; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn Th2, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mất tích.

2. Lệ phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đồng chị Th đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002084 ngày 05 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chị Th đã nộp đủ lệ phí.

Chị Nguyễn Thị Th có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Anh Vũ Đình Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ