vanban.org

Quyết định 06/2023/QĐ-TA

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 25/05/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy đối với:

Lê Văn C, sinh năm 1984. HKTT: Xóm 3, thôn P, xã P1, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Văn C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy đối với:
  • Căn cứ chính? Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2023/QĐ-TATP. Hưng Yên, ngày 25 tháng 5 năm 2023.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Vũ Thị Kim Anh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 06/2023/QĐ-TA ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Lê Văn C; Giới tính: Nam; Sinh năm 1984. Vắng mặt

Số định danh cá nhân: 033.084.004.478.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12.

Hộ khẩu thường trú: Xóm 3, thôn P, xã P1, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

Nghề nghiệp: Thợ xây. Tiền án; Tiền sự: Không. Con ông: Lê Văn À và bà: Hoàng Thị H.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hồng Minh - Phó phòng Lao động Thương binh và xã hội thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, hành vi vi phạm của Lê Văn C được thể hiện như sau:

Vào năm 2013, Lê Văn C đã sử dụng ma túy, mỗi ngày sử dụng 01 lần theo hình thức chích Herôin vào trong cơ thể. C có 01 lần đi cai nghiện ở Trung tâm cai nghiện Tiêu Vĩnh Ngọc Điện Biên. Cũng có thời gian C điều trị thường xuyên tại Bệnh viện Nhiệt Đới Hưng Yên để uống thuốc Methadone. Nhưng đến tháng 02/2023, C đã tự ý chấm dứt cai nghiện tại bệnh viện. Ngày 12/5/2023 Công an xã P1, thành phố Hưng Yên đã lấy lời khai của Lê Văn C và C đã thừa nhận hiện tại vẫn sử dụng ma túy.

Công an xã P1, thành phố Hưng Yên đã có đơn đề nghị Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên xác định tình trạng nghiện ma túy đối với C. Qua xét nghiệm, Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên đã xác định Lê Văn C nghiện ma túy là Heroine.

Tại Biên bản vi phạm ngày 10/5/2023, Ủy ban nhân dân xã P1 xác định Lê Văn C không đăng ký cai nghiện tự nguyện.

Ngày 17/5/2023, Ủy ban nhân dân xã P1 có Công văn số 01/ĐN-CNBB đề nghị Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hưng Yên xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn C.

Ngày 18/5/2023 Phòng Lao động - TB&XH thành phố Hưng Yên đã ban hành Công văn số 20/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn C.

Ngày 19/5/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên thụ lý hồ sơ vụ việc và đã ra Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và ấn định thời gian mở phiên họp vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 25/5/2023.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - TB&XH thành phố Hưng Yên: Vẫn giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện, bắt buộc đối với Lê Văn C với thời hạn là 18 tháng.

Đại diện VKSND thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên có quan điểm:

+ Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã thực hiện đúng các quy định của Pháp lệnh, trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.

+ Căn cứ Điều 95; Điều 96; Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Đề nghị giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - TB&XH thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn C với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY

Căn cứ theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ việc có đủ căn cứ xác định:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy đối với Lê Văn C:

Ngày 11/5/2023 Công an xã P1, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã lập biên bản về việc đọc hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn C. C đã tự đọc hồ sơ và không có thắc mắc gì.

Ngày 17/5/2023, Ủy ban nhân dân xã P1 có Công văn số 01/ĐN-CNBB đề nghị Phòng Lao động - TB&XH thành phố Hưng Yên xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn C.

Ngày 18/5/2023, Phòng Lao động - TB&XH thành phố Hưng Yên đã có Công văn số 20/LĐTBXH gửi Tòa án đề nghị xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy đối với Lê Văn C.

Như vậy hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - TB&XH thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về việc đưa C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ, đúng đối tượng.

Về tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng.

Lê Văn C sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2013. Hình thức sử dụng là chích Herôin vào trong cơ thể hàng ngày. Bản thân C đã có thời gian điều trị cai nghiện tại Bệnh viện Nhiệt đới Hưng Yên đến tháng 02/2023 tự ý chấm dứt cai nghiện tại Bệnh viện. Như vậy C đã vi phạm vào khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy ngày 30/3/2021 là tự ý chấm dứt cai nghiện tự nguyện. Hiện tại C vẫn sử dụng ma túy.

Xét thấy tại phiên họp quan điểm của đại diện Phòng Lao động - TB&XH thành phố Hưng Yên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đều đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy đối với Lê Văn C là có căn cứ, nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - TB&XH thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn C để C có thời gian cai nghiện và học tập, lao động, tu dưỡng bản thân.

Về pháp luật áp dụng:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2, khoản 3 Điều 103; Điều 104; Điều 107; Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012;

Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 4; khoản 2 Điều 8; khoản 1 Điều 9; Điều 11; Điều 12; Điều 13 của Nghị định số 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nghị định 136/2016/NĐ - CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221;

Căn cứ điều 16 Nghị định số 81/2013 ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ điều 3; 7; 11; 16; 17; 18; 19; 20; 22; 23; 24; 29; 30; 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy đối với:

Lê Văn C, sinh năm 1984. HKTT: Xóm 3, thôn P, xã P1, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc ngày niêm yết quyết định này tại UBND xã P1, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên có quyền kháng nghị trong hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên; Phòng Lao động - TB&XH thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ