vanban.org

Quyết định 06/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 30/06/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H về việc: Yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị T, sinh năm 1940; địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp 03, xã T, huyện V, tỉnh G là người mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự chị Trần Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được chuyển từ số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0002626, ngày 10 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành lệ phí sơ thẩm. Chi ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H về việc: Yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị T, sinh năm 1940; địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp 03, xã T, huyện V, tỉnh G là người mất tích.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2022/QĐST-VDSVị Thủy, ngày 30 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Mỹ Phương- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 174/2021/TLST-VDS, ngày 10 tháng 12 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 48/2022/QĐST-VDS, ngày 23 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị H, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp 03, xã T, huyện V, tỉnh G (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị T, sinh năm 1940; địa chỉ: Ấp 03, xã T, huyện V, tỉnh G (vắng mặt).

2. Anh Phạm Vũ H, sinh năm 1966; địa chỉ: Ấp 03, xã T, huyện V, tỉnh G (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết viêc dân sự và tại phiên họp, người yêu cầu là chị Trần Thị H trình bày: Vào năm 1991, cha mẹ của chị H là ông Trần Văn C (chết) và bà Trần Thị T có cho vợ chồng chị H diện tích 20.485m2 tại ấp 03 xã T, huyện V, tỉnh G. Sau khi được tặng cho đất, chị H đã cất nhà ở ổn định đến nay là 30 năm, không ai tranh chấp. Đến năm 2019, chị H phát hiện phần diện tích 1.005m2 đã xây nhà còn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C với bà T đứng tên, hiện nay bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy kê biên để thi hành khoản nợ của anh Trần Quốc S (anh ruột chị H, con ruột ông C và bà T, phần diện tích còn lại nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người khác.

Đến năm 2014, bà Trần Thị T bỏ địa phương, chị H và gia đình đã tìm mọi cách để tìm kiếm, nhưng không rõ tung tích hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Do đó, chị H yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị T là người mất tích. Anh Phạm Vũ H có cùng ý kiến như chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang nhận định:

Việc áp dụng pháp luật về tố tụng: Vào năm 2014, bà Trần Thị T (là mẹ của chị Trần Thị H), đã bỏ đi khỏi địa phương; chị H và gia đình đã tìm mọi cách để tìm kiếm, nhưng không rõ tung tích của bà Trần Thị T hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Theo xác nhận của chính quyền địa phương: “Bà Trần Thị H là con bà Trần Thị T; bà Trần Thị T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2014 cho đến nay”; đến ngày 10/11/2021, chị H tiếp tục thông báo trên Đài Truyền thanh huyện Vị Thủy nhưng cũng không có tin tức gì về bà Trần Thị T. Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Áp dụng pháp luật về nội dung: Do bà Trần Thị T đã bỏ địa phương đi từ năm 2014, nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

Về phía người yêu cầu chị Trần Thị H đã yêu cầu Tòa án nhắn tin trên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Cơ quan thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh phát sóng vào lúc 17 giờ 30 đến 18 giờ, trong 03 ngày: 20, 21 và 22/01/2022; và Báo Công lý, trên ba số báo liên tiếp: 16, 17 và 18, ra các ngày 25/02/2022, ngày 01 và 04/3/2022, tìm bà Trần Thị T; tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng không có tin tức gì về bà Trần Thị T. Theo khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”. Thời gian từ năm 2014 - 2022 là 08 năm, mặc dù chị H đã áp dụng các biện pháp tìn kiếm trên Báo Công lý và Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền thanh huyện Vị Thủy, nhưng không có tin tức xác thực về bà Trần Thị T còn sống hay đã chết. Do đó, yêu cầu của chị H về việc: Yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị T là người mất tích là có căn cứ.

Về lệ phí: Do chị Trần Thị H là người yêu cầu giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí; Chi phí thực hiện việc nhắn tin trên báo, đài là 3.500.000 đồng chị H đã nộp xong, không phải nộp thêm.

Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết yêu cầu của đương sự là có căn cứ.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Các Điều 5 và 6, khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 91, 93, 149, 150, 361, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

- Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H về việc: Yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị T, sinh năm 1940; địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp 03, xã T, huyện V, tỉnh G là người mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự chị Trần Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được chuyển từ số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0002626, ngày 10 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành lệ phí sơ thẩm.

- Chi phí thực hiện việc nhắn tin trên báo, đài là 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng), chị H đã nộp xong, không phải nộp thêm.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ