- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Văn T và Đỗ Thị T Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Văn T và chị Đỗ Thị T1.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2022/QĐST- HNGĐ Ngày: 24/ 01/2022 “V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con” |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Thư ký phiên họp:
Bà Đặng Ngọc Anh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 310/2021/TLST- HNGĐ ngày 27/12/2021, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 04/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10/01/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu:
1. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn Bến, xã LL, thành phố ChL, tỉnh Hải Dương.
2. Chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1987
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Bến, xã LL, thành phố ChL, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ hiện nay: No5, Lane 82, D street, T district, TC city.
- Người đại diện theo ủy quyền về việc giao, nhận văn bản tố tụng của chị T1: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn Bến, xã LL, thành phố ChL, tỉnh Hải Dương.
Anh T và chị T1 đều và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn xin ly hôn của anh Hoàng Văn T và chị Đỗ Thị T1 và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T, chị T1 được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LL (nay là phường LL), thành phố ChL, tỉnh Hải Dương vào ngày 22/3/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do năm 2016, chị T1 xuất cảnh sang Đài Loan làm ăn, vợ chồng xảy ra nhiều xung đột, bất đồng quan điểm sống, chủ yếu về vấn đề kinh tế và nuôi dạy con cái, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, không quan tâm, không có trách nhiệm với nhau. Tình cảm vợ chồng xa cách, mâu thuẫn kéo dài mà không có biện pháp gì khắc phục, hai vợ chồng sống ly thân kể từ đó đến nay, không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã thống nhất làm đơn ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Ngọc D, sinh ngày 07/12/2011 và Hoàng Gia B, sinh ngày 23/4/2014, các cháu hiện đang ở cùng anh T và ông bà nội. Anh T, chị T1 thỏa thuận để anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi các con thành niên. Anh T tự nguyện không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng cho các con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Hoàng Văn T và chị Đỗ Thị T1 xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Hiện tại chị Đỗ Thị T1 đang ở Đài Loan. Các tài liệu gồm: Giấy đồng ý ly hôn và phán quyết ly hôn vắng mặt, bản tự khai, đơn xin yêu cầu ly hôn vắng mặt, giấy ủy quyền, bản sao sổ hộ chiếu của chị T1 đã được Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc xác nhận. Do điều kiện chị Đỗ Thị T1 không về Việt Nam để giải quyết ly hôn nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, đồng thời ủy quyền cho anh Hoàng Văn T thay mặt chị giao nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai, anh T có quan điểm đồng ý nhận ủy quyền của chị T1. Sau khi nhận thông báo thụ lý việc hôn nhân gia đình, anh đã thông báo cho chị T1 biết. Quan điểm của chị T1 vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết công nhận thuận tình ly hôn giữa chị và anh T; Về con chung: Chị T1 nhất trí giao cả hai con chung là Hoàng Ngọc D, sinh ngày 07/12/2011 và Hoàng Gia B, sinh ngày 23/4/2014 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên và chị không phải cấp dưỡng tiền nuôi con; Tài sản chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp chị T1, anh T đều có đơn xin vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ việc: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh Hoàng Văn T và chị Đỗ Thị T1; Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của anh T và chị T1 giao cháu Hoàng Ngọc D và cháu Hoàng Gia B cho anh T nuôi dưỡng. Chị T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về lệ phí: Anh T tự nguyện chịu 300.000đ lệ phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
. Về tố tụng: Anh Hoàng Văn T và chị Đỗ Thị T1 có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Chị Đỗ Thị T1 đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Do vậy, việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con của anh T và chị T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết anh T và chị T1 đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Chị T1 không về Việt Nam tham gia tố tụng nhưng các tài liệu do chị T1 gửi về Việt Nam bao gồm: Giấy đồng ý ly hôn và phán quyết ly hôn vắng mặt, bản tự khai, đơn xin yêu cầu ly hôn vắng mặt, giấy ủy quyền, bản sao sổ hộ chiếu của chị T1 đã được Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc xác nhận. Do vậy, các tài liệu này là hợp pháp. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt anh T, chị T1.
. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn T và chị Đỗ Thị T1 được tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LL (nay là phường LL), thành phố ChL, tỉnh Hải Dương vào ngày 22/3/2011, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, hay xảy ra xung đột, mâu thuẫn và không tìm thấy tiếng nói chung. Đến nay, cả hai đều xác định tình cảm không còn và đều có đơn xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh T, chị T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh chị theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Anh T và chị T1 có hai con chung là Hoàng Ngọc D, sinh ngày 07/12/2011 và Hoàng Gia B, sinh ngày 23/4/2014, hiện các cháu đang ở cùng anh T và ông bà nội. Anh T, chị T1 thống nhất giao cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con Hoàng Ngọc D và Hoàng Gia B cho đến khi các con thành niên. Anh T tự nguyện không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng cho các con. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và không trái đạo đức xã hội, nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh T, chị T1 xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy, Tòa án không xem xét.
. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh T tự nguyện chịu cả lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình theo quy định.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Văn T và chị Đỗ Thị T1.
[2]. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của anh Hoàng Văn T và chị Đỗ Thị T1, giao cho anh Hoàng Văn T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là Hoàng Ngọc D, sinh ngày 07/12/2011 và Hoàng Gia B, sinh ngày 23/4/2014 cho đến khi các con chung thành niên. Anh T tự nguyện không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh T.
Chị Đỗ Thị T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.
[3]. Về lệ phí: Anh Hoàng Văn T tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đồng do anh Hoàng Văn T đã nộp theo biên lai thu số AA/2020/0004662 ngày 27 tháng 12 năm 2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh T đã nộp đủ lệ phí.
[4]. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND xã LL (nay là phường LL), thành phố ChL, tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Mai Hoa |