vanban.org

Quyết định 06/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị S về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Chế Văn V mất tích.

Tuyên bố ông Chế Văn V, sinh năm 1967; nơi cư trú cuối cùng: ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Bến Tre mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: bà Phạm Thị S phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0005042 ngày 30/3/2022 của Chi cục Thi hành án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Phạm Thị S - Chế Văn V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị S về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Chế Văn V mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2022/QĐST – DSMỏ Cày Bắc, ngày 15 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Đạt.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Quỳnh Như - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Hoàng Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 76/2022/TLST-VDS ngày 30 tháng 3 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 101/2022/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Phạm Thị S, sinh năm 1970 (có mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Đối với: Ông Chế Văn V, sinh năm 1967.

Nơi cư trú cuối cùng: ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Căn cứ vào lời trình bày của bà Phạm Thị S tại phiên họp thể hiện: bà và ông Chế Văn V kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H1, huyện M vào năm 1988. Sau khi kết hôn, bà và ông V sinh sống tại ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Bến Tre và có với nhau 02 con chung; sau đó vào năm 2005, do kinh tế gia đình khó khăn nên ông V đã bỏ nhà đi làm ăn cho đến nay mà không có tin tức gì. Sau đó, bà đã nhiều lần liên hệ cha mẹ ruột, họ hàng và bạn bè của ông V để hỏi về tin tức của ông V hiện đang cư trú, sinh sống ở nơi đâu nhưng do ông V không còn liên lạc gì với gia đình nên bà cũng không có tin tức gì của ông V. Đến tháng 11 năm 2021, bà có yêu cầu Tòa án: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với ông V và bà đã thực hiện việc đăng, phát thông báo tìm kiếm ông V trong các báo hàng ngày của báo “Công lý” trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài truyền hình Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp nhưng ông V vẫn không có trở về địa phương. Do đó, đến tháng 3 năm 2022 bà gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông V mất tích và cũng đã thực hiện việc đăng, phát: “Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích” đối với ông V trong các báo hàng ngày của báo “Công lý” trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài truyền hình Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp nhưng vẫn không có tin tức gì của ông V. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông V mất tích với lý do để bà được nhận phần đất do mẹ ruột ông V tặng cho.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: đề nghị Tòa án áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, các Điều 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị S về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Chế Văn V mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc nhận định:

Căn cứ vào “Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” số 02/2021/QĐ-TA ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc thể hiện ông Chế Văn V, sinh năm 1967; đăng ký thường trú: ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Bến Tre; từ năm 2005 ông V đã vắng mặt tại nơi cư trú cho đến nay. Căn cứ vào: “Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích” số 230/2022/QĐ-TA ngày 15/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, các “Hóa đơn giá trị gia tăng” của Trung tâm truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ và báo Công Lý, cũng như các số báo 033 (895) ra ngày 26/4/2022, 034+035 ra ngày 29/4/2022, 036 (898) ra ngày 06/5/2022 của báo “Công Lý” thể hiện: ông Chế Văn V đã vắng mặt tại nơi cư trú từ năm 2005 cho đến nay và bà Phạm Thị S đã đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Chế Văn V trong thời hạn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông V còn sống hay đã chết. Do đó, có căn cứ xác định ông V đã mất tích theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015: “Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích; Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng’’. Từ những căn cứ trên, xét thấy bà Phạm Thị S yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Chế Văn V mất tích là có cơ sở để chấp nhận.

Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị S phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị S về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Chế Văn V mất tích.

- Tuyên bố ông Chế Văn V, sinh năm 1967; nơi cư trú cuối cùng: ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Bến Tre mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: bà Phạm Thị S phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0005042 ngày 30/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên bà không còn phải nộp thêm.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ