vanban.org

Quyết định 06/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị Minh L, tuyên bố: Anh Ninh Quốc C, sinh năm 1969; nơi cư trú cuối cùng: Khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng là một người mất tích.

Về tài sản chung và quản lý tài sản chung: Chị L không yêu cầu, nên không giải quyết. Về L phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) L phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng L phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu ký… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người mất tích chị L với anh C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị Minh L, tuyên bố: Anh Ninh Quốc C, sinh năm 1969; nơi cư trú cuối cùng: Khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng là một người mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2022/QĐST-DSHuyện K, ngày 07 tháng 10 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Đức Hoàng

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 07/10/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 10/2022/TLST-VDS ngày 12/5/2022 về việc “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 73/2022/QĐST-DS ngày 28/9/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Đào Thị Minh L, sinh năm 1972. Đăng ký HKTT: Số nhà 6, ngõ 7, khu T, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Hiện trú tại: Khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Anh Ninh Quốc C, sinh năm 1969. Đăng ký HKTT: Số nhà 6, ngõ 7, khu T, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu tuyên bố mất tích ngày 25/4/2022, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, người yêu cầu anh chị L trình bày:

Chị kết hôn với anh C năm 1996, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N. Sau khi kết hôn, anh chị sống cùng nhà với bố mẹ đẻ anh C ở thôn K1, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Đến năm 1997, vợ chồng chuyển đến nhà riêng và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số nhà 6, ngõ 7, khu T, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Thời gian chung sống, vợ chồng sinh được 02 người con gồm Ninh Thị Quỳnh H, sinh năm 1997 và Ninh Gia T, sinh năm 2006. Trước đây, anh C làm chủ thầu, do làm ăn thua lỗ nên vợ chồng phải bán nhà riêng nêu trên và chuyển về sinh sống tại địa chỉ: Khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng từ tháng 10/2010. Chị L cùng gia đình hai bên phải vay mượn tiền ở nhiều nơi cho anh C trả nợ và động viên tinh thần anh C rất nhiều lần. Tuy nhiên, anh C vẫn cảm thấy chán nản công việc, ít giao tiếp với người xung quanh. Từ tháng 11/2010, anh C tự ý bỏ nhà đi khỏi nhà. Chị và gia đình đã đi nhiều nơi, gặp nhiều người để hỏi thăm tin tức cũng như tìm anh C trong nhiều năm nhưng không có kết quả. Vì vậy, chị xác định, anh C biệt tích khỏi địa pH từ tháng 11/2010 đến nay, không có tin tức gì. Nay chị yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Ninh Quốc C, sinh năm 1969; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích ở khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng là người mất tích.

Về tài sản chung và quản lý tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp, chị L giữ nguyên nội dung yêu cầu như nêu trên.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện các quyền, chấp hành nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; khoản 1 Điều 149; các điều 369, 370, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án; đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị Minh L, tuyên bố anh Ninh Quốc C là một người mất tích.

- Về tài sản chung và quản lý tài sản chung: Chị L không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

- Về L phí: Chị L phải chịu L phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện K nhận định:

- Về áp dụng pháp luật:

Về tố tụng, thẩm quyền giải quyết: Anh Ninh Quốc C là người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, có nơi cư trú cuối cùng tại Khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định: Đây là loại việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1937; nơi cư trú: Thôn K1, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng là mẹ đẻ anh C có ý kiến khẳng định bà không liên quan đến quyền, nghĩa vụ về tài sản của anh C và các quyền khác. Bà H1 từ chối tham gia tố tụng tại Tòa án nên Tòa án không đưa bà H1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự.

- Về nội dung:

Anh C kết hôn với chị L năm 1996, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, anh chị sinh 02 con gồm Ninh Thị Quỳnh H, sinh năm 1997 và Ninh Gia T, sinh năm 2006. Trước đây, anh chị sinh sống tại số nhà 6, ngõ 7, khu T, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng nhưng do công việc làm ăn của anh C không T lợi nên anh chị đã bán nhà trên và chuyển đến ở tại Khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng từ tháng 10/2010. Do chán nản công việc nên đến tháng 11/2010, anh C tự ý bỏ đi khỏi địa phương. Gia đình chị L đã đi tìm anh C nhiều lần, ở nhiều nơi nhưng không có kết quả. Vì vậy, chị L làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh C là một người mất tích. Sau khi xem xét đơn yêu cầu của chị L cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn; Tòa án nhân dân huyện K đã thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị L đối với anh C. Ngày 27/5/2022, Tòa án nhân dân huyện K ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Ninh Quốc C. Thông báo đã được đăng trên báo Công lý trong 03 số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp. Tòa án nhân dân huyện K tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương nơi cư trú cuối cùng của anh C đã xác nhận: Từ tháng 11/2010, anh C không còn sinh sống tại khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; hiện nay địa phương không biết anh C đang làm gì, ở đâu; không có thông tin gì về anh C; anh C không liên lạc gì về với gia đình, người thân. Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên ngày 27/5/2022 nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh C còn sống hay đã chết. Như vậy, có đủ cơ sở xác định tháng 11/2010 là thời gian biết được tin tức cuối cùng về anh C tại khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng, từ đó đến nay chị L và gia đình cũng như các phương tiện thông tin đại chúng của Nhà nước đã tìm kiếm nhiều lần nhưng vẫn không có tin tức gì về anh C. Căn cứ theo quy định tại Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự, xét thấy: Cần chấp nhận yêu cầu của chị L về việc tuyên bố anh Ninh Quốc C là một người mất tích, như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp.

Về tài sản chung và quản lý tài sản chung: Chị L không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về L phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án: Chị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) L phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng L phí sơ thẩm đã nộp.

Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; khoản 1 Điều 149; các điều 369, 370, 371, 372, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1, 3 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị Minh L, tuyên bố: Anh Ninh Quốc C, sinh năm 1969; nơi cư trú cuối cùng: Khu tập thể Bệnh viện huyện K thuộc T 1, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng là một người mất tích.

- Về tài sản chung và quản lý tài sản chung: Chị L không yêu cầu, nên không giải quyết.

- Về L phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) L phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng L phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu ký hiệu: AA/2021, số 0002021 ngày 12/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chị L đã chịu đủ L phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát nhân dân huyện K có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ