vanban.org

Quyết định 06/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Lê Thị D. Tuyên bố: Anh Lê Văn C, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.

Về chi phí tố tụng: Chị Lê Thị D phải chịu 3.900.000đồng (ba triệu chín trăm nghìn đồng) chi phí đăng báo, phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Chị D đã nộp và đã chi xong. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị D phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Lê Thị D yêu cầu tuyên bố anh Lê Văn C mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Lê Thị D. Tuyên bố: Anh Lê Văn C, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘ ĐỨC
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2021/QĐST-DS
Ngày: 10-9-2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Phong.

Thư ký phiên họp: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thu Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2021/TLST-DS ngày 09 tháng 3 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2021/QĐST-DS ngày 01 tháng 9 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị D; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 19/02/2021, chị Lê Thị D trình bày: Chị và anh Lê Văn C, sinh năm 1982 kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 01/7/2011. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên từ năm 2015 anh C bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Tháng 9/2018 chị có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh C, sau đó đã đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh C trên báo, đài của trung ương theo quy định, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của anh C. Nay, chị yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố anh Lê Văn C mất tích để có căn cứ ly hôn với anh C.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên họp:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị D. Tuyên bố anh Lê Văn C, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi mất tích. Chị D phải chịu chi phí đăng báo, phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi nhận định:

Về tố tụng:

Chị Lê Thị D và anh Lê Văn C tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 01/7/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh C là hợp pháp. Do đó, chị D có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lê Văn C mất tích theo quy định tại Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là anh Lê Văn C có nơi cư trú cuối cùng tại Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức thụ lý, giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo đơn yêu cầu của chị D là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Căn cứ lời trình bày của chị Lê Thị D và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Anh Lê Văn C đã bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2015 đến nay. Mặc dù chị D và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của anh C. Ngày 10/9/2018 Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức có quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh C và quyết định này cũng đã được đăng, phát đầy đủ trên báo, đài của trung ương theo quy định nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì về việc anh C còn sống hay đã chết.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Lê Thị D, ngày 29/3/2021 Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Lê Văn C. Thông báo nêu trên đã được đăng trên báo nhân dân trong 03 số liên tiếp từ số 23929 đến số 23931 trong các ngày 30/4 và ngày 01, 03/5/2021, đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp kể từ ngày 06 đến ngày 08/5/2021.

Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Lê Văn C còn sống hay đã chết. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015, việc chị Lê Thị D yêu cầu tuyên bố anh Lê Văn C mất tích là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh Lê Văn C: Chị Lê Thị D không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh Lê Văn C nên Tòa án không giải quyết.

Về chi phí tố tụng: Chị Lê Thị D phải chịu 3.900.000đồng (ba triệu chín trăm nghìn đồng) chi phí đăng báo, phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Chị D đã nộp và đã chi phí xong.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị D phải chịu 300.000đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị D đã nộp.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên họp là phù hợp, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều 144, 149, 370, 371, 372, 387 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Lê Thị D. Tuyên bố: Anh Lê Văn C, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.

- Về chi phí tố tụng: Chị Lê Thị D phải chịu 3.900.000đồng (ba triệu chín trăm nghìn đồng) chi phí đăng báo, phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Chị D đã nộp và đã chi xong.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị D phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí chị D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0005902 ngày 08/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Lê Thị D không có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định tại khoản 2 Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Cỡ chữ