vanban.org

Quyết định 06/2021/QĐHG-HNGD — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Chị Trần Thị H; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và anh Nguyễn Tiến H; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau: 1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Tiến H thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Chị Trần Thị H; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và anh Nguyễn Tiến H; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN ND TỈNH HÀ TĨNH
TÒA ÁN ND THỊ XÃ KỲ ANH
Số: 06/2021/QĐHG-HNGD
Thị xã Kỳ Anh, ngày 22 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Thẩm phán ra quyết định: Ông Nguyễn Ngọc Thạch

Căn cứ hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số 23/2021/TL-HNGĐ, ngày 28 tháng 10 năm 2021 giữa các bên:

- Người khởi kiện: Chị Trần Thị H, sinh ngày 27-02-1988; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Người bị kiện: Anh Nguyễn Tiến H, sinh ngày 18-10-1989; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ vào các Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 04 tháng 11 năm 2021, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc Hôn nhân và gia đình;

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án;

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi nhận trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 04 tháng 11 năm 2021 đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Chị Trần Thị H; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và anh Nguyễn Tiến H; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;

2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

2.1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Tiến H thuận tình ly hôn.

2.2. Về con cái: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Tiến H thống nhất giao con chung là cháu Nguyễn Trần T, sinh ngày 30-10-2015 cho anh Nguyễn Tiến H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Anh Nguyễn Tiến H không yêu cầu chị Trần Thị H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2.3. Về giải quyết tài sản:

Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Tiến H tự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận như sau:

2.3.1. Về thửa đất: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Tiến H thống nhất giao lại toàn bộ tài sản chung của vợ chồng là thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14/371, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 048968, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00623, ngày 24-12-2019 mang tên Nguyễn Tiến H và Trần Thị H, nơi thường trú: xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Diện tích: 154,4 m2; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở 100 m2, đất trồng cây lâu năm 54,4 m2; Thời hạn sử dụng: Đất ở lâu dài, đất trồng cây lâu năm sử dụng đến ngày 11-10-1967; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất cho anh Nguyễn Tiến H được quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt.

2.3.2. Về tài sản trên đất: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Tiến H thống nhất giao lại toàn bộ tài sản trên đất cho anh Nguyễn Tiến H được quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt các tài sản gồm: Rạp lợp tôn phía trước nhà ở: Kèo rạp bằng thép hộp chữ nhật mạ kẽm, lợp tôn màu, cột rạp bằng ống thép mạ kẽm phi 60, diện tích rạp 5,4m x 4,1m = 22,14m2; Nhà ở cấp IV, đổ bằng bê tông cốt thép, móng đá hộc, tường xây gạch táp lô, sàn nhà lát gạch men, diện tích 10m x 5,4m = 54m2; Chái phía sau nhà ở cấp IV, móng đá học, tường xây gạch táp lô, mái lợp ngói đỏ, sàn nhà láng xi măng, diện tích 4,7m x 6,5m = 30,55m2, được xây dựng trên thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14/371, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 048968, ngày 18-5-2018 mang tên Nguyễn Tiến H và Trần Thị H, nơi thường trú: xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi thành án dân sự.

4. Các bên có quyền xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ