- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyêt định sơ thẩm giải quyết việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu c u c a chị Nguyễn Thị Kim T
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 06/2020/QĐST - VDS | A, ngày 02 tháng 12 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Thi Thơ
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Thu Nha – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thương Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện A mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 37/2020/TLST-VDS ngày 08 tháng 7 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2020/QĐST - VDS ngày 19 tháng 11 năm 2020
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1991. Có mặt.
Trú tại: Thôn Q, xã E, huyện R, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Đức T1, sinh năm 1987
Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn U, xã P, huyện A, Quảng Ngãi. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 06/7/2020 bản tự khai và tại phiên họp chị Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Chị và anh Trần Đức T1 tự nguyện tìm hiểu yêu thương và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 10/11/2011. Trong thời gian chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, anh T1 có lối sống đồi trụy, không lo làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Kể từ tháng 9 năm 2017 cho đến nay anh T1 bỏ nhà đi khỏi địa phương, không có tin tức gì. Chị đã nhiều lần đi tìm và tìm cách liên lạc nhưng vẫn không biết cụ thể anh T1 hiện đang ở đâu, làm gì. Vào năm 2018, chị đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện A Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh T1 và Tòa án đã ra Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2018/QĐDS- ST ngày 11/6/2018, thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh T1 trên Báo, Đài tiếng nói Việt Nam, nhưng đến nay vẫn không rõ tin tức gì về anh Trần Đức T1. Nay, chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện A tuyên bố anh Trần Đức T1, sinh năm 1987, địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn U, xã P, huyện A, Quảng Ngãi mất tích.
Về con chung, tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kim T không yêu cầu Tòa án xem xét.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A đề nghị Toà án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng Dân sự và Điều 68, Điều 69 Bộ luật Dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim T về việc yêu cầu tuyên bố anh Trần Đức T1 mất tích. Chị Nguyễn Thị Kim T phải nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện A nhận định:
Về thẩm quyền:
Anh Trần Đức T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn U, xã P, huyện A, Quảng Ngãi, nơi cư trú cuối cùng của anh T1: Thôn U, xã P, huyện A, Quảng Ngãi. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a Khoản 2 Điều 35, điểm b Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim T đề nghị Tòa án tuyên bố anh Trần Đức T1 mất tích thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Quảng Ngãi.
[2 ] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Kim T và anh Trần Đức T1 tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 10/11/2011, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống, kể từ tháng 9 năm 2017 cho đến nay anh Trần Đức T1 bỏ đi khỏi địa phương, không có tin tức gì, không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của anh T1. Vào năm 2018, chị T đã làm đơn yêu cầu Tòa án Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh T1 và đã được Tòa án nhân dân huyện A chấp nhận ra Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2018/QĐDS- ST ngày 11/6/2018 và đăng thông báo tìm kiếm anh T1 trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của anh T1
Theo xác nhận của Công an xã P, huyện A, tỉnh Quảng Ngãi thì anh Trần Đức T1 đã bỏ đi khỏi địa phương cho đến nay không trở về, không có tin tức gì, phù hợp với lời khai của chị Nguyễn Thị Kim T tại Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 02/2020/QĐ- TA ngày 20/7/2020 đối với anh Trần Đức T1. Sau đó, chị Nguyễn Thị Kim T đã liên hệ đăng phát thông báo tìm kiếm anh T1 trên Đài tiếng nói Việt Nam, phát VOV2 vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 30, 31 tháng 7 năm 2020 và ngày 01/8/2020; Báo công lý trên ba số báo liên tiếp 61, 62, 63 ra ngày 31/7/2020 và ngày 04, 07/8/2020 để nhắn tìm anh Trần Đức T1. Tuy nhiên, đến nay hết thời hạn thông báo tìm kiếm nhưng anh T1 không trở về địa phương, không có tin tức xác thực về việc anh T1 còn sống hay đã chết.
Căn cứ Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “ Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”.
Từ các căn cứ nêu trên, Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim T về việc tuyên bố anh Trần Đức T1 mất tích.
[ 3] Về con chung, tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kim T không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
[ 5] Lệ phí giải quyết việc dân sự: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 27, điểm a Khoản 2 Điều 35, điểm b Khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Chấp nhận đơn yêu c u c a chị Nguyễn Thị Kim T
1. Tuyên bố anh Trần Đức T1, sinh ngày 01/01/1987, hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn U, xã P, huyện A, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: chị Nguyễn Thị Kim T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/ 0004616 ngày 08/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện A.
3. Chị Nguyễn Thị Kim T có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - Chi cục THA huyện A; - VKSND huyện A; - Người yêu cầu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Tr n Thị Thi Thơ |