- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định tuyên bố ông Hà Quang Q mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của bà Phạm Thị L đối với ông Hà Quang Q, sinh năm 1973, địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn X, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2020/QĐST-VDS | Krông Năng, ngày 17 tháng 8 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đoàn Thị Thu Trang
Thư ký phiên họp: Bà Lương Thị Ngọc - thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Đăng Khoa: Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 32/2020/TLST-VDS ngày 10 tháng 02 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 06/2020/QĐPH-VDS ngày 10 tháng 8 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Địa chỉ: Thôn X, xã E, huyện K, tỉnh Đ. (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hà Quang Q, sinh năm 1973.
Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn X, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Ngày 05 tháng 02 năm 2020 bà Phạm Thị L làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tuyên bố ông Hà Quang Q, sinh năm 1973, địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn X, xã E, huyện K, tỉnh Đ mất tích với lý do: Bà Phạm Thị L và ông Hà Quang Q là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đ vào ngày 15/3/2001. Sau khi kết hôn thì vợ chồng bà L chung sống với nhau tại thôn X, xã E, huyện K, tỉnh Đ. Sau một thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do tính tình và cách sống không hòa hợp, ông Q bỏ bê gia đình đi đánh bạc nên sống không có hạnh phúc. Đến đầu năm 2011 ông Q đã bỏ nhà đi đến nay. Bà L đã áp dụng tất cả các biện pháp tìm kiếm; xác minh tại Công an xã E, huyện K; yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Năng thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú nhưng không rõ ông Q ở đâu.
Do đó bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hà Quang Q mất tích theo quy định.
Quá trình thụ lý giải quyết bà Phạm Thị L có đơn xin vắng mặt tại phiên họp do bận công việc nên không thể về tham dự phiên họp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên họp, phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án đã đúng với quy định của pháp luật và đề nghị căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự, các Điều 149, 370, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị L, tuyên bố ông Hà Quang Q mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông Năng nhận định:
Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: Xét yêu cầu của bà Phạm Thị L về việc tuyên bố ông Hà Quang Q mất tích, Tòa án nhận thấy yêu cầu của bà Phạm Thị L thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Krông Năng thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung của yêu cầu: Bà Phạm Thị L và ông Hà Quang Q chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đ vào ngày 15/3/2001 nên là hôn nhân hợp pháp. Từ đầu năm 2011 cho đến nay ông Q đã bỏ đi khỏi địa phương mà không khai báo tạm vắng với chính quyền địa phương, cũng như không báo cho bà L biết. Bà Liêm cũng đã áp dụng tất cả các biện pháp tìm kiếm, xác minh tại Công an xã E, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện K thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú nhưng không biết hiện nay ông Q ở đâu. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết đã ra quyết định thông báo tìm kiếm đối với ông Hà Quang Q gửi đến các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương (cụ thể: thông tin tuyên truyền trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam vào lúc 17 giờ 50 phút đến 18 giờ các ngày 28, 29, 30 tháng 3 năm 2020 và báo Công Lý số các ngày 03, 08, 10 tháng 4 năm 2020). Đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo tìm kiếm ông Q nhưng Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk vẫn không nhận được thông tìn gì về ông Hà Quang Q. Vì vậy, bà Phạm Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hà Quang Q mất tích là có đủ căn cứ nên cần chấp nhận đơn của bà Phạm Thị L.
Các vấn đề khác: Bà Phạm Thị L không yêu cầu nên không xem xét.
Về Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị L phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng về quan điểm giải quyết việc dân sự phù hợp với nhận định của Tòa nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 371, 372, 387, 388 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của bà Phạm Thị L đối với ông Hà Quang Q, sinh năm 1973, địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn X, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
Tuyên bố ông Hà Quang Q mất tích từ năm 2011.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí là 300.000 đồng mà bà Phạm Thị L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0002869 ngày 06 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND H.Krông Năng; -Chi cục THADS H.Krông Năng; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đoàn Thị Thu Trang |