vanban.org

Quyết định 06/2020/QĐST-DS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của chị Võ Thị Thùy T. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Trần Anh T1, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn X, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.

Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Trần Anh T1 sẽ được đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Chi phí cho việc đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng do chị Võ Thị Thùy T chịu. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Chị Võ Thị Thùy T yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Trần Anh T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của chị Võ Thị Thùy T. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Trần Anh T1, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn X, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘ ĐỨC
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2020/QĐST-DS
Ngày: 14-8-2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Phong.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Bích Thuyền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thu Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 08/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2020 về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2020/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Võ Thị Thùy T; địa chỉ: 497 H, khu phố X, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Anh T1; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn X, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 30-5-2020 và tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, chị Võ Thị Thùy T trình bày: Chị và anh Trần Anh T1, sinh năm 1994 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 12-12-2017. Sau một thời gian chung sống, vào ngày 15-7-2018 anh T1 bỏ nhà đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng: Thôn X, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Từ đó đến nay, chị và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp để tìm kiếm anh T1 nhưng vẫn không có tin tức gì. Nay, chị yêu cầu Tòa án giải quyết thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Trần Anh T1 để giúp chị tìm kiếm thông tin của anh T1.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên họp:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Thùy T về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Trần Anh T1. Chị Võ Thị Thùy T phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi nhận định:

Về tố tụng: Chị Võ Thị Thùy T và anh Trần Anh T1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 12-12-2017 nên quan hệ hôn nhân của chị T và anh T1 là hợp pháp. Từ ngày 15-7-2018 anh T1 bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng: Thôn X, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi đến nay không có tin tức gì. Do đó, theo quy định tại Điều 381 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì chị Võ Thị Thùy T có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh T1. Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức thụ lý, giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Theo trình bày của chị Võ Thị Thùy T trong quá trình giải quyết việc dân sự thì anh Trần Anh T1 đã bỏ nhà đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng: Thôn X, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi từ ngày 15-7-2018 đến nay; chị T và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của anh T1. Lời trình bày này của chị T phù hợp với lời trình bày của ông Trần T2, là cha đẻ của anh T1 tại biên bản làm việc ngày 29-7-2020. Ngoài ra, tại biên bản xác minh ngày 29-7-2020, Trưởng Công an xã Đ cũng xác nhận: “anh Trần Anh T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn X, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Anh T1 không có mặt tại địa phương từ năm 2018 đến nay. Khi đi anh T1 không khai báo nên chính quyền địa phương không biết hiện nay anh T1 đang ở đâu, làm gì”.

Như vậy, tính đến thời điểm chị Võ Thị Thùy T nộp đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Trần Anh T1 thì anh T1 đã biệt tích trên 06 tháng liền. Do đó, việc chị T yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh T1 là có căn cứ theo quy định tại Điều 64 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh Trần Anh T1: Trong đơn yêu cầu và tại phiên họp sơ thẩm, chị Võ Thị Thùy T không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh Trần Anh T1 nên Tòa án không giải quyết.

Chị Võ Thị Thùy T phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Võ Thị Thùy T phải chịu 300.000đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị T đã nộp.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên họp là phù hợp, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều 144, 149, 370, 371, 372, 381, 383, 385 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 64 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của chị Võ Thị Thùy T. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Trần Anh T1, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn X, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.

- Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Trần Anh T1 sẽ được đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Chi phí cho việc đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng do chị Võ Thị Thùy T chịu.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Võ Thị Thùy T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí chị T đã nộp (do ông Trần Thạch nộp thay) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0005751 ngày 19-6-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi sẽ được khấu trừ vào số tiền lệ phí chị T phải chịu.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Võ Thị Thùy T có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định tại khoản 2 Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Cỡ chữ