- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh Võ Duy K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phan Thị D: Tuyên bố anh Võ Duy K, sinh năm 1984, nơi cư trú cuối cùng: tổ 6, ấp 1, xã LS, huyện CM, tỉnh Đồng Nai mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2020/QĐDS-ST | Cẩm Mỹ, ngày 30 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Thùy Trang
Thư ký phiên họp: Ông Phạm Tuấn Hải - Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Dương Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 62/2020/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 165/2020/QĐST-VDS ngày 21 tháng 9 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau:
- Người yêu cầu: chị Phan Thị D, sinh năm 1984 (Vắng mặt) Địa chỉ: tổ 6, ấp 1, xã LS, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
- Người bị yêu cầu: anh Võ Duy K, sinh năm 1982 (vắng mặt) Nơi cư trú cuối cùng: tổ 6, ấp 1, xã LS, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Chị Phan Thị D và anh Võ Duy K đăng ký kết hôn tại UBND xã TT, huyện PN, tỉnh Quảng Nam theo giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 17 tháng 7 năm 2009. Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung: Võ Quang H, sinh ngày 17/12/2009 và Võ Ngọc Su R, sinh ngày 07/11/2013. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nên đến năm 2015 anh K bỏ đi biệt tích cho đến nay. Chị D đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm anh K nhưng không có kết quả. Anh K bỏ đi khi đang thường trú tại ấp 1, xã LS, huyện CM, tỉnh Đồng Nai đến nay không có tin tức nên chị D làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Võ Duy K mất tích theo quy định pháp luật. Về biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: chị D không yêu cầu.
* Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý việc dân sự và tại phiên họp đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Phan Thị D, tuyên bố anh Võ duy K mất tích
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến của kiểm sát viên và kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: chị Phan Thị D và anh Võ Duy K đăng ký kết hôn hợp pháp. Tuy nhiên, anh K bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2015 đến nay không rõ địa chỉ nên chị D làm đơn yêu cầu tuyên bố anh Võ Duy K mất tích. Vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh K có nơi cư trú cuối cùng tại ấp 1, xã LS, huyện CM, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đơn yêu cầu của chị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: chị Phan Thị D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vắng mặt chị D.
Về quyền yêu cầu: chị Phan Thị D và anh Võ Duy K kết hôn hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống không hạnh phúc nên anh Khánh bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2015 đến nay không có tin tức gì thì chị D có quyền yêu cầu tuyên bố anh K mất tích. Theo xác nhận của Công an xã LS thì anh Võ Duy K có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp 1, xã LS, huyện CM, tỉnh Đồng Nai nhưng anh K bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2015, không thông báo cho Công an xã nên không biết địa chỉ hiện nay của anh K. Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự và Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đơn yêu cầu của chị D có căn cứ chấp nhận.
Về yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: chị D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Từ những nhận định nêu trên và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: đủ điều kiện tuyên bố anh Võ Duy K, sinh năm: 1984, nơi cư trú cuối cùng: tổ 6, ấp 1, xã LS, huyện CM, tỉnh Đồng Nai mất tích. Về yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: chị D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về lệ phí: chị D phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.
Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; khoản 2 Điều 367; khoản 1 Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phan Thị D: Tuyên bố anh Võ Duy K, sinh năm 1984, nơi cư trú cuối cùng: tổ 6, ấp 1, xã LS, huyện CM, tỉnh Đồng Nai mất tích.
2.Về yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: chị D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Phan Thị D phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được khấu trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng lệ phí mà chị D đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001769 ngày 10 tháng 4 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Chị D đã nộp đủ lệ phí.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: các đương sự được quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Thời hạn kháng cáo là 10 ngày kể từ ngày người yêu cầu và người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự được tống đạt quyết định hợp lệ theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai được quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - các đương sự; -UBND xã LS; - VKSND huyện CM; - Chi cục THADS huyện CM; - Lưu hsvv; - Lưu av. | THẨM PHÁN Trương Thị Thùy Trang |