- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Lò Văn N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày: 12/11/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Quân và bà Bạc Thị Thanh Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Lượng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn N; tên gọi khác: Không.
Sinh ngày: 16/4/1991, tại: Xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn S, sinh năm 1964 và con bà Lò Thị T sinh năm 1967; bị cáo từng chung sống như vợ chồng với Lò Thị T, sinh năm 1989 và có 01 người con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa xử phạt vi phạm hành chính, bị xét xử 01 lần về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2020, tạm giam ngày 30/8/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người có nghĩa vụ liên quan: Lò Văn D, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 27/8/2020 bị cáo Lò Văn N đi bộ từ nhà ở bản S, xã Q ra ngoài ngõ để tìm mua thuốc lá, khi đang trên đường quay về thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Do bản thân không có nghề nghiệp ổn định và ham lợi nhuận từ việc mua bán ma túy nên bị cáo đã hỏi và mua của người đàn ông này 01 gói nilon màu xanh bên trong có 02 viên Methamphetamine với giá 50.000đ/một viên, bị cáo mua ma túy về nhằm mục đích để bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy bị cáo đi về nhà cất giấu gói ma túy dưới đệm giường ngủ rồi đi ngủ. Khoảng 07 giờ ngày 28/8/2020 thì có Lò Văn D đến nhà bị cáo hỏi mua ma túy. Qua trao đổi bị cáo đã bán cho Lò Văn D 01 viên Methamphetamine với giá 60.000đ, Lò Văn D trả trước cho bị cáo 50.000đ còn nợ lại 10.000đ. Sau khi mua bán xong Lò Văn D đi đâu bị cáo không biết, bị cáo gói viên 01 Methamphetamine còn lại và cất giấu ở dưới đệm giường ngủ nhằm mục đích để bán kiếm lời. Đến khoảng 8 giờ sáng cùng ngày bị cáo Lò Văn N bị tổ công tác công an huyện Tuần Giáo phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 gói nilon màu xanh bên trong có 01 viên Methamphetamine có khối lượng 0,11 gam. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và áp giải bị cáo về cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tuần Giáo để điều tra, làm rõ.
Tại bản Kết luận giám định số: 835/GĐ-PC09 ngày 09/9/2020 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn N gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine; khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn N là 0,11 gam”
Tại bản Cáo trạng số: 89/CT-VKSTG ngày 29 tháng 10 năm 2020, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Lò Văn N về tội: Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Thực hành quyền công tố tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng, các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,08 gam Methamphetamine, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng; đối với số tiền 510.000đ (năm trăm mười nghìn đồng) trong đó có 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma túy cho Lò Văn D mà có, đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, số tiền còn lại 460.000đ (bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) là tiền đi làm thuê mà có không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị trả lại cho bị cáo. Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo: Khoảng 23 giờ, ngày 27/8/2020, bị cáo Lò Văn N mua 02 viên ma túy loại Methamphetamine với số tiền là 100.000đ (một trăm nghìn đồng) của một người đàn ông không quen biết ở khu vực bản S, xã Q, huyện T, mục đích để bán kiếm lời. Sau khi mua được 02 viên Methamphetamine bị cáo mang về nhà cất giấu dưới đệm giường ngủ, đến khoảng 07 giờ ngày 28/8/2020 bị cáo bán cho Lò Văn D 01 viên Methamphetamine với giá 60.000đ (sáu mươi nghìn đồng), nhưng Lò Văn D mới trả cho bị cáo 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), còn nợ 10.000đ (mười nghìn đồng). Vào hồi 08 giờ cùng ngày 28/8/2020 tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo bắt quả tang thu giữ 01 viên Methamphetamine còn lại của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Lò Văn N đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 01 viên Methamphetamine là 0,11 gam. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[2] Về tính chất và mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tuần Giáo nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo từ nhỏ sống phụ thuộc vào gia đình tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, được đi học đến lớp 12. Năm 2008 học trường Trung cấp văn hóa nghệ thuật Hưng Yên. Tháng 9/2011 công tác tại trường T, huyện T (nay là trường phổ thông dân tộc bán trú T). Tháng 12/2012 nghỉ việc ở nhà lao động sản xuất, trong năm 2012 nghiện chất ma túy. Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử tại Bản án số: 30/HSST ngày 17/7/2013 tuyên phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Lò Thị T từ năm 2016 đến năm 2017 và có 01 người con chung. Bị cáo đã từng bị xét xử lẽ ra phải lấy đó làm bài học để sóng tốt hơn; cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là sản xuất nông nghiệp, sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Kiểm sát viên đề nghị xử phạt đối với bị cáo: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần chấp nhận.
Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan điều tra - Công an huyện Tuần Giáo không có căn cứ để điều tra làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Lò Văn D, sinh năm 1987 trú tại bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên là người đã mua của bị cáo 01 viên Methamphetamine vào ngày 28/8/2020 và đã sử dụng hết. Hành vi của Lò Văn D đã vi phạm Luật xử lý vi phạm hành chính, ngày 10/10/2020 cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tuần Giáo đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Lò Văn D là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng vụ án: Đối với 01 gói niêm phong màu trắng, các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,08 gam Methamphetamine, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng cần tịch thu và tiêu hủy; đối với số tiền 510.000đ (năm trăm mười nghìn đồng) trong đó có 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma túy cho Lò Văn D mà có, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; số tiền còn lại 460.000đ (bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo đi làm thuê mà có không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi và các quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.
Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí; theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố:
1. Về tội danh: Bị cáo Lò Văn N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/8/2020.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điểm b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng, các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,08 gam Methamphetamine, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng); trả lại cho bị cáo số tiền 460.000đ (bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 12/11/2020).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Công an huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Việt Hƣơng |