- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Hồ Thị Tr yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Hồ Thị Tr.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2019/QĐST-DS | A Lưới, ngày 24 tháng 9 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hồ Văn Vĩnh.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hiếu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên họp: Ông Lê Ngọc Hươi - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2019/TLST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2019, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2019/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hồ Thị Tr, sinh năm 1991; trú tại: Thôn P, xã H, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp giải quyết việc dân sự, người yêu cầu là chị Hồ Thị Troanh trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 24 tháng 6 năm 2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc nhưng thời gian sau anh T không lo làm ăn, phụ giúp vợ nuôi dạy con cái, xây dựng gia đình mà ngược lại còn hay nhậu nhẹt, có hành vi bạo lực đánh đập chị Tr. Từ tháng 3 năm 2017, anh T bỏ đi làm ăn xa nhưng chị Tr không biết đi đâu, làm gì và cho đến nay cũng không có thông tin hay liên lạc gì từ phía anh T. Chị Tr đã nhiều lần tìm kiếm, liên lạc với gia đình cha mẹ của anh T là ông Nguyễn Văn K và bà Hoàng Thị Đ ở thôn 5 Thanh L, xã Thanh H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình nhưng anh T cũng không có mặt tại địa phương và cũng không có tin tức gì. Anh Nguyễn Văn T đã biệt tích từ tháng 3 năm 2017 cho đến nay là hơn 02 năm nên chị Hồ Thị Tr yêu cầu Tòa án giải quyết Tuyên bố anh Nguyễn Văn T mất tích. Về tài sản chung không có nên không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích.
Tại phiên họp, chị Hồ Thị Tr giữ nguyên ý kiến tại đơn yêu cầu và đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố anh Nguyễn Văn T mất tích.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án được phân công giải quyết việc dân sự đã tuân thủ đúng các quy định liên quan của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định.
- Về nội dung: Anh Nguyễn Văn T đã biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng các biện pháp thông báo, tìm kiến theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh T còn sống hay đã chết. Đề nghị căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; các Điều 370, 388 và 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hồ Thị Tr, tuyên bố anh Nguyễn Văn T mất tích. Chị Tr phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự và chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện A Lưới nhận định:
Chị Hồ Thị Tr và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Sau thời gian kết hôn, đến ngày 21-02-214 anh T đã chuyển hộ khẩu từ thôn 5 Thanh L, xã Thanh H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình về thường trú tại thôn Cần N (nay là thôn P), xã H, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế và được Công an xã H đăng ký vào ngày 28-4-2014. Chị Tr trình bày anh T bỏ đi khỏi nơi cư trú từ tháng 3-2017 cho đến nay không có tin tức gì là phù hợp với xác nhận của Công an xã H.
Theo Sổ Hộ khẩu đăng ký và xác nhận của Công an xã H thì xác định được nơi cư trú cuối cùng của anh T là tại thôn Cần N (nay là thôn Py), xã H, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện A Lưới thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”
Anh T bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng đã hơn 02 năm liền không có tin tức. Chị Tr là người có quyền, lợi ích liên quan nên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố anh T mất tích theo quy định của pháp luật. Sau khi có Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh T thì chị Tr đã nhờ Tòa án hỗ trợ thực hiện việc đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp (Báo Công lý số 44, 45, 46 ra các ngày 04, 07, 11-6-2019) và phát sóng trên Đài truyền hình trung ương trong ba lần trong 03 ngày liên tiếp (VTV8 phát vào lúc 17 giờ 50’ các ngày 20, 21, 22-5-2019) theo đúng quy định tại các Điều 384 và 385 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đến nay, thời hạn thông báo 04 tháng đã kết thúc nhưng không có tin tức xác thực về việc anh T còn sống hay đã chết.
Từ nhận định và căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Troanh về việc tuyên bố anh T mất tích.
Chị Tr không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp: Đề nghị căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; các Điều 370, 388 và 389 Bộ luật Tố tụng dân sự, cần chấp nhận đơn yêu cầu của chị Tr, ra quyết định tuyên bố anh T mất tích là phù hợp với nhận định của Tòa án.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc chị Tr phải chịu lệ phí theo quy định.
Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Chị Tr phải chịu nộp toàn bộ chi phí đăng thông báo là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và phát thông báo là 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) theo mức thu hiện hành của Báo Công lý, Đài Truyền hình Việt Nam VTV8. Tổng cộng phải nộp là 2.550.000đ (Hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Chị Tr đã nộp tiền tạm ứng chi phí đăng phát thông báo 3.000.000đ (Ba triệu đồng) theo Phiếu thu ngày 14-5-2019, nộp tại Tòa án nhân dân huyện A Lưới nên được trả lại 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các Điều 370, 371, 372, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Hồ Thị Tr.
Tuyên bố: Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 15-10-1990, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Cần N (nay là thôn P), xã H, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Hồ Thị Tr phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2013/004240 ngày 18-4-2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị Hồ Thị Tr đã nộp đủ tiền lệ phí.
- Chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Chị Hồ Thị Tr phải nộp 2.550.000đ (Hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng chi phí đăng, phát thông báo đã nộp 3.000.000đ (Ba triệu đồng) theo Phiếu thu ngày 14-5-2019, tại Tòa án nhân dân huyện A Lưới. Chi Tr đã nộp đủ chi phí đăng, phát thông báo; hoàn trả cho chị Tr 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng chi phí đăng, phát thông báo đã nộp.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Hồ Thị Tr có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - TAND tỉnh TT-Huế; - VKSND huyện A Lưới; - CC THADS huyện A; - UBND xã H; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Hồ Văn Vĩnh |