vanban.org

Quyết định 06/2019/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 12/07/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Hủy Quyết định số 06/2017/QĐST-DS, ngày 12 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện E về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị D - sinh năm 1981- trú tại: tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện E, tỉnh Đăk Lăk mất tích.

Các quan hệ nhân thân và quyền sở hữu tài sản: Chị Nguyễn Thị D không có yêu cầu nên không đề cập xem xét. Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện E, theo biên lai số: 0000822, ngày 10 tháng 6 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu hủy quyết định tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Hủy Quyết định số 06/2017/QĐST-DS, ngày 12 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện E về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị D - sinh năm 1981- trú tại: tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện E, tỉnh Đăk Lăk mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN E
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số 06/2019/QĐDS-STE, ngày 12 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu hủy quyết định tuyên bố mất tích

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Thư ký phiên họp: Ông Phan Việt Tiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện E;

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện E tham gia phiên họp: Ông Ksơr Y Kơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện E mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2019/LTST-VDS, ngày 17 tháng 6 năm 2019, về việc "Yêu cầu hủy quyết định tuyên bố mất tích" theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2019/QĐST-VDS, ngày 04 tháng 7 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị D - sinh năm 1981, trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện E, tỉnh Đăk Lăk - Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp;

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Thành C; trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện E, tỉnh Đăk Lăk - Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu, biên bản lấy lời khai đề ngày 20 tháng 6 năm 2019, chị Nguyễn Thị D trình bày:

Chị Nguyễn Thị D và anh Đỗ Thành C tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.

Thời gian chung sống đến năm 2011 thì chị D bỏ về quê ở Thanh Hóa để làm ăn. Đến năm 2017, do không biết chị D ở đâu và cũng không thể liên lạc được với chị D nên anh Chung đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện E tuyên bố chị D mất tích. Tòa án nhân dân huyện E đã tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích tại quyết định số 06/2017/QĐST-VDS, ngày 12 tháng 7 năm 2017.

Nay chị D đã trở về và yêu cầu Tòa án nhân dân huyện E hủy quyết định tuyên bố mất tích số 06/2016/QĐST-VDS, ngày 12/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện E về việc tuyên bố chị D mất tích.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 7 năm 2019, anh Đỗ Thành C trình bày:

Anh C và chị D là vợ chồng, nay chị D có yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định số 06/2017/QĐST-VDS, ngày 12 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện E thì anh C yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Tại phiên họp, kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng trình tự theo quy định pháp luật về tố tụng. Tại phiên họp, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc thì việc chị D đã trở về và yêu cầu Tòa án hủy quyến định tuyên bố chị D mất tích là có căn cứ, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D.

Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện E nhận định:

Chị Nguyễn Thị D và anh Đỗ Thành C kết hôn và chung sống với nhau từ năm 2004. Đến năm 2011, chị D bỏ nhà đi không rõ tung tích nên anh C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện E tuyên bố chị D mất tích. Tòa án nhân dân huyện E đã tuyên bố chị D mất tích tại Quyết định số 06/2017/QĐST-DS, ngày 12 tháng 7 năm 2019.

Nay chị D trở về và yêu cầu Tòa án nhân dân huyện E hủy Quyết định số 06/2017/QĐST-DS, về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích. Tuy nhiên, do bận công việc không thể tham gia tố tụng, chị D có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt chị D.

Đối với anh Đỗ Thành C, anh C không có ý kiến gì về yêu cầu của chị D và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng anh Đỗ Thành C không tham gia phiên họp.

Về lệ phí: Cần buộc chị Nguyễn Thị D phải chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 27, các Điều 362, 363, 370; 371, 372, 390 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 70 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về lệ phí, án phí Tòa án.

Tuyên bố: Hủy Quyết định số 06/2017/QĐST-DS, ngày 12 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện E về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị D - sinh năm 1981- trú tại: tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện E, tỉnh Đăk Lăk mất tích.

Các quan hệ nhân thân và quyền sở hữu tài sản: Chị Nguyễn Thị D không có yêu cầu nên không đề cập xem xét.

Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện E, theo biên lai số: 0000822, ngày 10 tháng 6 năm 2019.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày mở phiên họp. Người vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ