- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Thị T - Lữ Văn N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lữ Văn N mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2018/QĐST – DS | Mỏ Cày Bắc, ngày 13 tháng 12 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Đạt.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Quỳnh Như - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên họp: Bà Huỳnh Thị Chấm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 140/2018/TLST-VDS ngày 28 tháng 6 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 112/2018/QĐST-VDS ngày 07 tháng 12 năm 2018 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 (có mặt).
Trú tại: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Anh Lữ Văn N, sinh năm 1983.
Nơi cư trú cuối cùng: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Căn cứ vào lời trình bày của chị Nguyễn Thị T tại phiên họp thể hiện: chị và anh Lữ Văn N cưới nhau vào năm 2000 đến năm 2008 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C (nay là xã H, huyện M) vào năm 2008. Sau khi kết hôn, chị và anh N sinh sống tại ấp P, xã H, huyện C (nay là xã H, huyện M), tỉnh Bến Tre; sau đó vào tháng 01 năm 2015, anh N đã tự bỏ nhà đi không rõ nguyên do cho đến nay mà không có tin tức gì. Sau đó, chị đã nhiều lần liên hệ cha mẹ ruột, họ hàng và bạn bè của anh N để hỏi về tin tức của anh N hiện đang cư trú, sinh sống ở nơi đâu nhưng do anh N không còn liên lạc gì với gia đình nên chị cũng không có tin tức gì của anh N. Đến tháng 12 năm 2017, chị có yêu cầu Tòa án: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với anh N và chị đã thực hiện việc đăng, phát thông báo tìm kiếm anh N trong các báo hàng ngày của báo “Công lý” trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp nhưng anh N vẫn không có trở về địa phương. Do đó, đến tháng 6 năm 2018 chị gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh N mất tích và cũng đã thực hiện việc đăng, phát: “Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích” đối với anh N trong các báo hàng ngày của báo “Công lý” trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp nhưng vẫn không có tin tức gì của anh N. Nay chị yêu cầu Tòa án tuyên bố anh N mất tích với lý do sau này chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung: đề nghị Tòa án áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lữ Văn N mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc nhận định:
Căn cứ vào “Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” số 01/2018/QĐVDS-ST ngày 17/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc thể hiện anh Lữ Văn N, sinh năm 1983; đăng ký thường trú: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre; từ năm 2015 anh N đã bỏ địa phương đi cho đến nay. Căn cứ vào: “Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích” số 228/2018/QĐ-TBTK ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, các “hóa đơn bán hàng” của Đài tiếng nói Việt Nam cơ quan thường trú khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, “Hóa đơn giá trị gia tăng” của báo Công Lý, cũng như các số báo 62 (1601) ngày 03/8/2018, 63 (1602) ngày 08/8/2018, 64 (1603) ngày 10/8/2018 của báo “Công Lý” thể hiện: anh Lữ Văn N đã vắng mặt tại nơi cư trú từ năm 2015 cho đến nay và chị Nguyễn Thị T đã đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Lữ Văn N trong thời hạn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh N còn sống hay đã chết. Do đó, có căn cứ xác định anh N đã mất tích theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015: “Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích; Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng’’. Từ những căn cứ trên, xét thấy chị Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lữ Văn N mất tích là có cơ sở để chấp nhận.
Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lữ Văn N mất tích.
- Tuyên bố anh Lữ Văn N, sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0009440 ngày 28/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên chị không còn phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc; - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Ngọc Đạt |