vanban.org

Quyết định 06/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 25/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Nguyễn Ngọc D: Tuyên bố ông Phạm Văn T mất tích. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Bà Nguyễn Ngọc D phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2017/0001337 ngày 23/3/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Ngọc D tuyên bố Phạm Văn T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 67 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ KUIN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2018/QĐDS-ST
Ngày: 25/9/2018
V/v tuyên bố một người mất tích

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh- Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Liên- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2018/TLST-VDS ngày 26 tháng 3 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2018/QĐVDS - ST ngày 06 tháng 9 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1995.

Trú tại: Thôn 1B, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, (có mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1988.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 1C, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Bà Nguyễn Ngọc D yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn T, sinh năm 1988, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 1C, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk mất tích.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Đây là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 BLTTDS.

Về trình tự thủ tục: Quá trình tố tụng Tòa án đã xác minh, thông báo tìm kiếm đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T nhưng đến nay đã hơn 04 tháng vẫn chưa có tin tức gì, xét thấy việc Tòa án mở phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích là đúng theo quy định tại Điều 388 BLTTDS.

Về nội dung yêu cầu và căn cứ pháp lý:

Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, bản tự khai và tại phiên họp, bà Nguyễn Ngọc D trình bày:

Bà Nguyễn Ngọc D và ông Phạm Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 24/9/2012 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Quá trình chung sống tại thôn 1C, xã C, huyện C ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, bản thân ông T thường xuyên đánh đập bà D. Tháng 01/2016 bà D chuyển về nhà bố mẹ đẻ sống, ông bà cũng ly thân từ đó đến nay, sau khi ly thân ông T cũng bỏ đi khỏi địa phương, không biết đi đâu làm gì, bà D và gia đình đã tìm kiếm nhưng đều không có tin tức. Do vậy bà D yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn T mất tích.

Trong thời gian chung sống, ông bà có có 01 con chung: Cháu Phạm Gia B, sinh ngày 21/11/2013; hiện cháu B đang do bà D chăm sóc nuôi dưỡng nên không yêu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 02/2018/QĐ-TA ngày 12/4/2018. Theo đó, Báo L đã tiến hành việc đăng tin tìm kiếm ông T trên 03 số báo liên tiếp: số 36 ngày 04/05/2018, số 37 ngày 09/05/2018 và số 38 ngày 11/05/2018; Đài tiếng nói V thông tin tìm kiếm người vắng mặt 03 lần vào các ngày: 21, 22, 23/04/2018. Đến ngày 05/9/2018, thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã hết nhưng ông T vẫn không quay về, không có tin tức gì.

Ngày 07/9/2018, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin nhận được đơn trình bày của ông Phạm Văn C (là bố đẻ của ông Phạm Văn T) có nội dung ông T hiện đang đi làm ăn tại tỉnh Đắk Nông từ tháng 07/2016 đến nay, thỉnh thoảng có liên lạc và về thăm gia đình. Qua làm việc ông C không cung cấp được địa chỉ cụ thể của ông T đồng thời xác định khi đi và về ông T cũng như gia đình không thông báo với ai cũng như với chính quyền địa phương, không có tài liệu chứng cứ để chứng minh các thông tin ông C cung cấp là đúng nên không có cơ sở xem xét.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin phát biểu: Quá trình giải quyết việc dân sự từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp Thẩm phán, Thư ký và đương sự đã thực hiện theo đúng trình tự quy định của BLTTDS. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin áp dụng các điều 369, 370, khoản 1 Điều 387 và khoản 1, khoản 2 Điều 388 BLTTDS; Điều 68 BLDS 2015 chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc D, tuyên bố ông Phạm Văn T mất tích.

Xét, theo trình bày của bà Nguyễn Ngọc D về việc chồng bà là ông Phạm Văn T đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 01/2016 đến nay không có tin tức gì và qua quá trình xác minh tại chính quyền địa phương xã C xác định: Ông Phạm Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 1C, xã C nhưng đã bỏ địa phương đi từ tháng 01/2016 không biết đi đâu làm gì, đến nay không trở về, đối với thông tin gia đình ông T cung cấp hiện nay ông T đang ở Đắk Nông nhưng không báo với chính quyền địa phương nên địa phương không xác định được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Xét thấy thời gian biệt tích của ông T được tính từ tháng 01/2016 đến nay đã hơn 02 năm. Sau khi Tòa án có thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có tin gì về ông T hiện nay ở đâu, còn sống hay đã chết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 67, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà D đối với ông T.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về chi phí đăng tin tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng tổng cộng là 2.916.000 đồng người yêu cầu phải chịu chi phí này, được khấu trừ trong khoản tiền tạm ứng đã nộp.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các điều 67, 149, 387, 388, 389 BLTTDS.

Căn cứ vào Điều 68 BLDS năm 2015.

Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Nguyễn Ngọc D: Tuyên bố ông Phạm Văn T mất tích.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Bà Nguyễn Ngọc D phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2017/0001337 ngày 23/3/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Về chi phí đăng tin tìm kiếm: Bà Nguyễn Ngọc D phải chịu 2.916.000 đồng, được khấu trừ số tiền đã tạm ứng nộp.

Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ