vanban.org

Quyết định 06/2018/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 20/11/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà A. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Z.

/ Án phí dân sự phúc thẩm: Bà A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng bà A được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm do thuộc đối tượng là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "“Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản”, giữa nguyên đơn bà A với các bị đơn ông B và bà C"
  • Tòa quyết gì? 1/. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà A. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Z.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2018/QĐ-PTSóc Trăng, ngày 20 tháng 11 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Dũ.

Các Thẩm phán:

Bà Tăng Thị Thúy Nga.

Ông Nguyễn Khánh Hùng.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Z đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 3 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản”, giữa:

- Nguyên đơn: Bà A. Địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Sóc Trăng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà A: Ông T là Luật sư cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông B và bà C. Địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông D. Địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Sóc Trăng.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 16/10/2018, nguyên đơn bà A yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02/10/2018 của Tòa án nhân dân (TAND) huyện Z và chuyển hồ sơ vụ án cho TAND huyện Z giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, với lý do: Vào năm 2016, bà có làm đơn khởi kiện ông B, bà C ra TAND huyện Z và cũng trong năm 2016 bà có làm đơn xin rút đơn khởi kiện để gia đình bà thỏa thuận với ông B, bà C. Tuy nhiên, do sau đó hai bên thỏa thuận không thành nên cũng trong năm 2016 bà đã làm đơn khởi kiện lại. Nay TAND huyện Z căn cứ vào đơn bà xin rút lại đơn khởi kiện năm 2016 (đơn lần khởi kiện đầu) để ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02/10/2018 là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (vi phạm nghiêm trọng về tố tụng).

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến phát biểu và đề nghị Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng phúc thẩm nhận định:

Vào ngày 06/6/2018 bà A có làm đơn rút lại đơn khởi kiện (đơn đề ngày 06/6/2018) nộp cho TAND huyện Z (BL số 187, 189). Cũng trong ngày 06/6/2018, TAND huyện Z có tiến hành lấy khai bà A để làm rõ sự việc bà A rút lại đơn khởi kiện, tại buổi lấy khai bà A trình bày đơn rút lại đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2018 đúng là của bà A và lý do bà A rút lại đơn khởi kiện là vì hiện tại bà A đã thỏa thuận được với phía bị đơn, việc rút lại đơn khởi kiện là ý chí tự nguyện của bà A không bị ai ép buộc (BL số 188). Do trong vụ án còn có đơn phản tố của ông B và bà C nhưng sau đó ông B, bà C đã được TAND huyện Z triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do (BL 190, 191, 192, 193). Từ cơ sở đó, TAND huyện Z ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02/10/2018 là đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trước đây bà A đã từng khởi kiện ông B, bà C ra TAND huyện Z hai lần: Lần thứ nhất bà A rút đơn khởi kiện vào ngày 11/11/2015 và TAND huyện Z đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 24/2015/QĐST-DS ngày 11/11/2015 để đình chỉ giải quyết vụ án (BL số 14); Lần thứ hai bà A rút đơn khởi kiện vào ngày 13/10/2016 và TAND huyện Z đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 19/2016/QĐST-DS ngày 13/10/2016 để đình chỉ giải quyết vụ án (BL số 08). Còn việc TAND huyện Z ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02/10/2018 là căn cứ vào đơn xin rút lại đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2018 của bà A như đã nêu trên, không liên quan gì đến hai lần rút đơn khởi kiện của bà A trước đây. Do đó, việc bà A cho rằng TAND huyện Z căn cứ vào đơn bà xin rút lại đơn khởi kiện trước đây để ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02/10/2018 là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (vi phạm nghiêm trọng về tố tụng) từ đó bà A yêu cầu hủy quyết định này là không có căn cứ để chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, việc TAND huyện Z đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ và đúng pháp luật nên nội dung đơn kháng cáo của bà A là không có căn cứ để Hội đồng phúc thẩm chấp nhận.

Tại phiên họp, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà A phát biểu ý kiến đưa ra những căn cứ, lập luận và đề nghị Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà A, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02/10/2018 của TAND huyện Z. Đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà A là không có căn cứ để Hội đồng phúc thẩm chấp nhận.

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên họp phúc thẩm. Đồng thời, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo, từ đó đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà A, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02/10/2018 của TAND huyện Z. Đề nghị của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ để Hội đồng phúc thẩm chấp nhận.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

1/. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà A. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 35/2018/QĐST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Z.

2./ Án phí dân sự phúc thẩm: Bà A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng bà A được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm do thuộc đối tượng là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3/. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

Cỡ chữ