- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Lê Văn P - Lê Văn K"
- Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn P đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 39/2017/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2017/QĐ-PT | Sóc Trăng, ngày 04 tháng 10 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán-Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Hùng Nuôi.
- Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Khánh Hùng.
2. Ông Nguyễn Văn Dũ.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 39/2017/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2017, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách đã căn cứ vào Điều 48, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp chia thừa kế”, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn P, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp X, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
- Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1957; địa chỉ: ấp X, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị A, sinh năm 1949.
2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957.
3. Bà Ngô Thị C, sinh năm 1942.
4. Bà Lê Thị D, sinh năm 1957.
5. Ông Lê Văn T.
6. Ông Lê Văn V, sinh năm 1985.
7. Bà Ngô Thị V, sinh năm 1983.
8. Bà Phan Thị Kiều N.
9. Bà Lê Thị X.
Cùng địa chỉ: ấp X, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
10. Bà Dương Thị O.
11. Bà Lê Thị H, sinh năm 1980.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Tại đơn kháng cáo ngày 29/8/2017, nguyên đơn ông Lê Văn P yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xem xét huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 39/2017/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, với lý do: Trong quá trình giải quyết vụ án, không phải ông không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án nhân dân huyện Kế Sách mà vì trong các lần Toà án triệu tập ông bị áp lực công việc cơ quan quá nhiều ông phải vắng mặt, ông vì tập thể chứ không phải vì cá nhân.
XÉT THẤY:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và theo nội dung đơn kháng cáo, Hội đồng phúc thẩm nhận định:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho nguyên đơn ông Lê Văn P cụ thể:
Ngày 03/7/2017 Toà án cấp sơ thẩm ra Thông báo số 432/TB-TA về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vào ngày 14/07/2017 (BL: 264, 265) và tống đạt cho ông Lê Văn P cùng ngày do ông Nguyễn Thanh T nhận thay (BL: 270). Nhưng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ngày 14/7/2017 ông P vắng mặt không có lý do (BL: 268).
Ngày 21/7/2017, Toà án cấp sơ thẩm tiếp tục ra Thông báo số 493/TB-TA về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vào ngày 08/8/2017 (BL: 277, 278) và tống đạt cho ông Lê Văn P nhận trực tiếp (BL: 282). Nhưng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ngày 08/8/2017 ông P cũng vắng mặt không có lý do (BL: 279).
Tại đơn kháng cáo và tờ Tường trình cùng ngày 29/8/2017 (BL: 299, 300) của ông Lê Văn P có thừa nhận là nhận được các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nêu trên nhưng vì các ngày 14/7/2017 và 08/8/2017 ông bận các cuộc họp của cơ quan và do áp lực công việc quá nhiều nên ông vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ngày 14/7/2017 và 08/8/2017.
Xét thấy, Toà án cấp sơ thẩm đã không ra giấy triệu tập các đương sự mà chỉ ra Thông báo cho các đương sự về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và sử dụng các Thông báo này thay thế cho giấy triệu tập các đương sự là chưa đúng quy định tại Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và chưa đảm bảo về việc triệu tập hợp lệ đương sự. Mặc khác, cũng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ngày 14/7/2017 nguyên đơn ông Lê Văn P vắng mặt không có lý do. Lẽ ra, Toà án cấp sơ thẩm cần phải ra Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ngày 14/7/2017 và ấn định lại ngày mở phiên họp. Nhưng đến ngày 21/7/2017, Toà án cấp sơ thẩm mới ra Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vào ngày 08/8/2017 là chưa phù hợp.
Ngoài ra, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;” theo quy định này thì nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà sơ thẩm mà vẫn vắng mặt thì Toà án mới được đình chỉ giải quyết vụ án. Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này là chưa đúng quy định pháp luật.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên họp phúc thẩm. Đồng thời, cho rằng cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là chưa đúng quy định pháp luật, nên đề nghị Hội đồng phúc thẩm áp dụng điểm c khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 huỷ quyết định sơ thẩm và giao hồ sơ về Toà án cấp sơ thẩm giải quyết theo thủ tục chung. Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ điểm c khoản 5 và khoản 6 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
1/. Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn P đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 39/2017/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 39/2017/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
Giao hồ sơ về Toà án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
2./ Án phí phúc thẩm: Nguyên đơn ông Lê Văn P không phải chịu.
Ông Lê Văn P được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0007647 ngày 29/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
3/. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - TAND huyện Kế Sách; - Chi cục THADS huyện Kế Sách; - Lưu: (HS-TDS). HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM Các Thẩm phán Nguyễn Khánh Hùng Nguyễn Văn Dũ | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp Đã ký Phạm Hùng Nuôi Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp Phạm Hùng Nuôi |