- Tranh chấp gì? "Hiệp"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H.
- Căn cứ chính? Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/QĐ-TA | Đ, ngày 11 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Quyên
Ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 05/QĐ-TA ngày 05 tháng 7 năm 2023, đối với:
Họ và tên: H; giới tính: Nam; sinh ngày: 10 tháng 8 năm 1992. CCCD số: 064092001104; Dân tộc: Ba Na; Tôn giáo: Tin lành; Trình độ học vấn: 9/12; Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn DJRông, xã ADơk, huyện Đ, tỉnh G.
Nghề ngH: Làm nông;
Con ông Nhân và bà Anglor. Có vợ là Jơn, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án: 01; Bản án số 03/2013/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2013 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G xử phạt 36 tháng tù về tội: Cướp tài sản.
Tiền sự: Không;
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Trọng Hà – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh G (Giấy ủy quyền số: 04/UQ-LĐTBXH ngày 10 tháng 7 năm 2023).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G: bà Đoàn Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ có công văn số 05/ĐN-CNBB ngày 30/6/2023, đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại ma túy đá, cụ thể như sau:
Ngày 13/6/2023, tại: xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh G, H có hành vi sử dụng trái phép ma túy. Ngày 19/6/2023 Công an xã ADơk, huyện Đ, tỉnh G tiến hành kiểm tra, xét nghiệm ma túy và theo dõi xác nhận tình trạng nghiện đối với H cho kết quả là có nghiện ma túy nên lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, đồng thời lập hồ sơ đề nghị đưa H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.
Quá trình làm việc, H thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng ma túy nêu trên và không có ý kiến khiếu nại gì đối với việc Chủ tịch UBND xã ADơk, huyện Đ lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngoài ra, H còn khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2021, loại ma túy sử dụng là ma túy đá, bản thân nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng và chưa đăng ký cai nghiện tự nguyện.
Tại phiên họp:
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ phát biểu ý kiến:
H nghiện ma túy loại ma túy đá và có nơi cư trú ổn định. H đang nằm trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 54/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của UBND xã ADơk, huyện Đ nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự, quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H thời hạn là từ 12 tháng đến 18 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý:
Việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đúng trình tự thủ tục quy định tại Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H đúng theo trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Triệu tập thành phần tham gia phiên họp và trình tự, tiến hành phiên họp thực hiện đúng quy định tại Điều 18 và Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H, thời hạn là từ 12 tháng đến 18 tháng.
XÉT THẤY:
1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:
Thời hiệu giải quyết: Ngày 19/6/2023, H bị Công an xã ADơk, huyện Đ lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/7/2023, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H là còn trong thời hiệu, theo quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm Hành chính.
Thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính và Điều 3 của Pháp Lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định H là người nghiện ma túy và có nơi cư trú ổn định. H đang nằm trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 54/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của UBND xã ADơk, huyện Đ, cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành lập hồ sơ đề nghị và thực hiện đúng trình tự quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm Hành chính và tại các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
2. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:
Theo lời khai có trong quá trình lập hồ sơ, H đã thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nên có cơ sở xác định H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 19/6/2023, Trung tâm y tế huyện Đăk Đoa, tỉnh G kết luận H là người nghiện ma túy Methamphetamine. Do đó, có đủ căn cứ kết luận H đã vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. H có nơi cư trú ổn định, H đang nằm trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 54/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của UBND xã ADơk, huyện Đ nên thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính 2020 và Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: H đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính.
4. Mức độ nhận thức và nhân thân của người bị đề nghị áp dụng:
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: H biết rõ ma túy là chất gây nghiện, có sức tàn phá đối với sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, H cũng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Tuy nhiên, H đã sử dụng ma túy từ năm 2021 cho tới nay và H đang nằm trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 54/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của UBND xã ADơk, huyện Đ lại tiếp tục vi phạm; bản thân có 1 tiền án về tội: Cướp tài sản.
5. Lý do, căn cứ áp dụng:
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H là cần thiết để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
Do đó, cần thiết phải quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H một thời gian tương xứng với hành vi và mức độ vi phạm để cai nghiện, học tập và lao động.
- Căn cứ vào:
Điều 27 và Điều 32 Luật Phòng chống ma túy;
Các Điều 3, 6, 9, 95. 96. 103, 104, 105, 107 và điểm b Khoản 1 Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính; khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính 2020;
Các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
Các Điều 2, 3, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh G.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan tổ chức có liên quan biết.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Đ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Riêng đối với đối tượng H có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh G; Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh G; cơ quan, tổ chức có liên quan và H có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - H; - CA huyện Đ; - VKSND huyện Đ; - Phòng LĐ-TB&XH huyện Đ; - UBND xã ADơk; - Cơ sở Tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh G; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hoài Thơ |