vanban.org

Quyết định 05/QĐ-TA

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 23/03/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Đình T.

Nơi tiếp nhận đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Trung tâm điều trị nghiện ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam (Địa chỉ: Thị trấn B, huyện K, tỉnh Hà Nam). Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hà…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trịnh Đình T - Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Đình T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Luật Phòng, chống ma túy sửa đổi bổ sung; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM
Số: 05/QĐ - TA.
QUYẾT ĐỊNH
Phủ Lý, ngày 23 tháng 3 năm 2023.

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.

2. Thư ký phiên họp: Ông Đỗ Xuân Lập.

Ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố (viết tắt: TP) Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 04/QĐ-TA ngày 17 tháng 3 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Trịnh Đình T, sinh năm 1987; giới tính: Nam; số định danh cá nhân: 035087012478; nơi cấp: Bộ Công an; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 09/12; nơi cư trú: Xóm 3, xã L, TP P, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Tiền án: Ngày 29/5/2015, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Nhân thân: Ngày 09/6/2008, Chủ tịch UBND thị xã P, tỉnh Hà Nam ra quyết định về việc đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng.

Con ông: Trịnh Văn B và bà Trần Thị L.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Phạm Thị Ánh T; Chức vụ: Phó trưởng Phòng Lao động - thương binh và xã hội TP P, tỉnh Hà Nam.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam: Bà Nguyễn Thị Thu Trang; Chức vụ: Kiểm sát viên.

3. Những người khác: Đại diện UBND xã L, TP P, tỉnh Hà Nam: Ông Bùi Văn L; chức vụ: Phó trưởng Công an xã L, TP P, tỉnh Hà Nam và ông Trần Quang T; chức vụ: Công an xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (Theo giấy ủy quyền ngày 20/3/2023).

NHẬN THẤY:

Trịnh Đình T là đối tượng nghiện chất ma túy từ lâu. Ngày 09/6/2008, T bị Chủ tịch UBND thị xã P, tỉnh Hà Nam ra quyết định về việc đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng. Ngày 29/5/2015, T bị Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Sau khi chấp hành xong bản án trên T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 27/02/2023, Công an xã L, TP P đã đưa T đến Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Nam để xét nghiệm chất ma túy, kết quả xét nghiệm “Dương tính với Morphin”. Ngày 04/3/2023, Trạm trưởng Trạm y tế xã L, TP P đã trả lời “Xác định Trịnh Đình T là người nghiện ma túy”. Cùng ngày 04/3/2023, Công an xã L, TP P đã làm việc với T để thông báo và yêu cầu T phải đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng trong thời hạn 05 ngày làm việc. Ngày 10/3/2023, Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Nam xác nhận: Hiện tại Trịnh Đình T không đăng ký uống thuốc thay thế Methadon tại Trung tâm, không đăng ký cai nghiện tại cộng đồng. Ngày 10/3/2023, UBND xã L, TP P xác nhận: Hiện tại Trịnh Đình T không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội TP P: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Trịnh Đình T đảm bảo các căn cứ pháp luật. Việc đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 24 tháng là cần thiết và giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại Công văn số 07/ĐN-CNBB ngày 16/3/2023.

- Ý kiến của đại diện UBND xã L: Trịnh Đình T là đối tượng nghiện ma tuý đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc nhưng vẫn tái nghiện, sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của cơ quan có thẩm quyền nhưng T vẫn không đăng ký đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, việc đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là rất cần thiết giúp T cai nghiện được ma túy, xây dựng cuộc sống lành mạnh. Đề nghị Toà án nhân dân TP Phủ Lý xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Phủ Lý: Việc lập hồ sơ đưa công dân Trịnh Đình T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đảm bảo chặt chẽ, đúng thời gian và tính pháp lý theo quy định của pháp luật. Trình tự, thủ tục thụ lý, mở phiên họp của Tòa án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị của Phòng lao động - thương binh và xã hội TP P là đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi vi phạm của T. Đề nghị Tòa án nhân dân TP Phủ Lý áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Trịnh Đình T với thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Trịnh Đình T đảm bảo về trình tự, thủ tục, thời hạn, điều kiện theo đúng quy định của pháp luật.

Hành vi vi phạm của Trịnh Đình T đã làm ảnh hưởng đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất gây nghiện và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó còn ảnh hưởng đến chính sức khoẻ của bản thân T, gây ra nhiều hệ lụy xấu cho cộng đồng. Là người đã xử lý hình sự, xử lý hành chính nhưng vẫn không chịu sửa chữa, tiếp tục sa vào con đường nghiện ngập ma tuý. Đặc biệt T đã được cơ quan có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Do đó, cần thiết phải đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời hạn nhất định như đề nghị của Phòng lao động - thương binh và xã hội TP P là phù hợp, cần chấp nhận, nhằm tạo điều kiện cho T được chữa bệnh, điều trị phục hồi sức khoẻ không tái nghiện và lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, giúp T có điều kiện tái hoà nhập cộng đồng, xây dựng cuộc sống lành mạnh.

Về tình tiết tăng nặng: Trịnh Đình T không phải chịu một tình tiết tăng nặng nào. Tuy nhiên Trịnh Đình T đang có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án tích) nên khi quyết định thời hạn cai nghiện bắt buộc Tòa án cũng xem xét nội dung này.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trịnh Đình T được hưởng một tình tiết giảm nhẹ là “tự nguyện khai báo thành thật hối lỗi” theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, chính quyền địa phương và Viện kiểm sát cùng cấp tại phiên họp là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật và cần thiết trong việc giáo dục, cảm hoá Trịnh Đình T trở thành công dân tốt, đảm bảo sức khoẻ cộng đồng và giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn.

Căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Trịnh Đình T: Điều 95; 96; 103; 104; khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020; Luật Phòng, chống ma túy sửa đổi bổ sung năm 2021; Điều 3, 19, 20, 22, 23, 24, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Đình T.

Nơi tiếp nhận đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Trung tâm điều trị nghiện ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam (Địa chỉ: Thị trấn B, huyện K, tỉnh Hà Nam).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định (khiếu nại phải gửi đơn đến Toà án đã xem xét nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại).

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (kiến nghị, kháng nghị bằng văn bản, nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Toà án đã xem xét).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan Công an TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - thương binh và xã hội TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đưa Trịnh Đình T đi thi hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ