- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận khiếu nại của anh Đặng Văn T, giữ nguyên Quyết định số 07/2018/QĐ-TA ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố R về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đặng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 56/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/QĐ-TA | Kiên Giang, ngày 02 tháng 4 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Giải quyết khiếu nại
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Võ Văn Lịnh – Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
2. Thư ký phiên họp: Ông Hồ Ngọc Luân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Ngày 02/4/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tiến hành phiên họp xét, giải quyết khiếu nại của người bị đề nghị Đặng Văn T, khiếu nại đối với Quyết định số 07/2018/QĐ-TA ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
Người bị đề nghị: Đặng Văn T, sinh năm 1970.
Tên gọi khác: T Q.
Giới tính: Nam.
Chứng minh nhân dân số:…, ngày cấp: 31/5/2016, nơi cấp: Công an Kiên Giang.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hoá: Không biết chữ.
Nguyên quán: Thành phố R, Kiên Giang.
Hộ khẩu thường trú/ chỗ ở hiện nay: Nguyễn Thái H, khu phố 2, Phường V, thành phố R, Kiên Giang.
Nghề nghiệp: Làm thuê.
Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông Đặng Văn H (đã chết) và bà Trần Thị H.
Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Đức H – Phó Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Ông Trương Văn Chi – Kiểm sát viên trung cấp.
NHẬN THẤY:
Ngày 15/3/2018 Tòa án nhân dân thành phố R ra Quyết định số 07/2018/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đặng Văn T, thời hạn áp dụng là 24 tháng.
Ngày 19/3/2018 anh Đặng Văn T có đơn khiếu nại Quyết định số 07/2018/QĐ-TA ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố R. Nội dung đơn khiếu nại anh T cho rằng anh có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính phải lo cho mẹ già và các con nhỏ ăn học. Do đó, yêu cầu Tòa án giảm thời hạn cai nghiện bắt buộc hoặc cho anh cai nghiện tại nơi cư trú.
Tại phiên họp anh Đặng Văn T yêu cầu Tòa án giảm thời hạn cai nghiện bắt buộc đối với anh từ 24 tháng xuống còn 12 tháng.
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Anh Đặng Văn T đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện hai lần, bị xử lý hành chính nhiều lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng vẫn còn nghiện. Do đó, cần phải có thời gian dài để anh T cai nghiện được chất ma túy, việc Tòa án áp dụng thời hạn cai nghiện 24 tháng đối với anh T là phù hợp. Việc anh T cho rằng bản thân phải nuôi mẹ già không ai chăm sóc là không đúng, vì anh T vẫn còn hai người anh ruột ở cùng địa chỉ với mẹ của anh T. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bác đơn khiếu nại của anh T, giữ nguyên Quyết định số 07/2018/QĐ-TA ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố R.
Ý kiến của đại diện viện kiểm sát:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung khiếu nại: Anh Đặng Văn T là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định và bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy, thuộc trường hợp phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ. Anh T đã hai lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng vẫn sử dụng và nghiện ma túy, do đó Tòa án áp dụng thời hạn cai nghiện đối với anh T 24 tháng là phù hợp và đảm bảo cho việc cai nghiện. Đề nghị Tòa án không chấp nhận khiếu nại của anh T, giữ nguyên Quyết định số 07/2018/QĐ-TA ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố R.
XÉT THẤY:
Anh Đặng Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường V, thành phố R ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần. Đến ngày 23/9/2017, anh T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy (loại Methamphetamine), Công an phường V lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với anh T .
Ngày 16/10/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V ra Quyết định số 350/QĐ-UBND áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với anh T, thời hạn áp dụng là 03 tháng (từ ngày 17/10/2017 đến ngày 14/01/2018). Trong thời gian chấp hành quyết định, đến ngày 09/01/2018 anh T tiếp tục sử dụng chất ma túy (loại Methamphetamine) và bị lập Biên bản vi phạm hành chính về hành vi này.
Ngày 11/01/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V ra Quyết định số 04/QĐ-UBND chấm dứt việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với anh Đặng Văn T.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Bảo ban hành quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với anh Đặng Văn T, đồng thời chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền để đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là đúng với quy định tại Điều 35a Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn được sửa đổi, bổ sung tại khoản 16 Điều 1 Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ.
Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 09/01/2018 của Trung tâm Y tế thành phố R xác định anh Đặng Văn T có nghiện ma túy (loại Methamphetamine). Anh T là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định và bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy. Thuộc trường hợp phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ. Tòa án nhân dân thành phố R áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là đúng quy định của pháp luật.
Về thời hạn áp dụng: Anh Đặng Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã hai lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần về hành vi này, đã có quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng anh T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép và nghiện chất ma túy. Trường hợp của anh T vi phạm nhiều lần là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính, anh T không có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tòa án nhân dân thành phố R áp dụng mức thời hạn cai nghiện bắt buộc 24 tháng đối với anh T là phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm và để anh T có đủ thời gian ổn định sức khỏe, cai nghiện được chất ma túy trở về nhòa nhập với cộng đồng. Việc anh T khiếu nại xin giảm thời hạn cai nghiện bắt buộc từ 24 tháng xuống còn 12 tháng là không có căn cứ để chấp nhận.
Từ những nhận định trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố R là có sở để chấp nhận, không chấp nhận khiếu nại của anh Đặng Văn T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 35 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ Điều 35a Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn được sửa đổi, bổ sung tại khoản 16 Điều 1 Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ; Khoản 1 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ;
Căn cứ Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
1. Không chấp nhận khiếu nại của anh Đặng Văn T, giữ nguyên Quyết định số 07/2018/QĐ-TA ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố R về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đặng Văn T.
Thời hạn áp dụng là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày anh Đặng Văn T bị đưa vào Cơ sở Cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang (được trừ thời gian tạm giữ trước nếu có).
2. Quyết định số 07/2018/QĐ-TA ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố R có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành quyết định này.
Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành ngay.
| Nơi nhận: - Anh Đặng Văn T; - Phòng LĐTB&XH thành phố R; - UBND phường V; - TAND thành phố R; - CS Cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh KG; - Bà Trần Thị H (mẹ anh T ); - VKSND tỉnh Kiên Giang; - Lưu hồ sơ./. | THẨM PHÁN (đã ký) Võ Văn Lịnh |