vanban.org

Quyết định 05/QĐ-TA

TAND Q. Đồ Sơn, TP. Hải Phòng Tuyên án 13/05/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Anh Phạm Văn T, sinh ngày 20-11-1977; nơi cư trú: Số 3 Ngõ 75 L, Tổ dân phố C, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hải Phòng. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Anh Phạm Văn T, sinh ngày 20-11-1977; nơi cư trú: Số 3 Ngõ 75 L, Tổ dân phố C, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/QĐ-TAĐồ Sơn, ngày 13 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Duy Khoa

2. Thư ký phiên họp: Bà Lưu Thị Hương Giang

Ngày 13 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/QĐ-TA ngày 07 tháng 5 năm 2021, đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 20-11-1977

CMND số: 022077002796.

Nơi cấp: Bộ Công an.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 8/12.

Nguyên quán: Xã B, huyện V, tỉnh Q.

Hộ khẩu thường trú: Số 3 Ngõ 75 L, Tổ dân phố C, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng.

Chỗ ở hiện nay: Số 3 Ngõ 75 L, Tổ dân phố C, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án: 03,

Bản án số 08/HSST ngày 20-5-2004 của Tòa án nhân dân thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Bản án số 11/2013/HSST ngày 22-8-2013 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xử phạt 39 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Bản án số 13/2016/HSST ngày 21-6-2016 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Tiền sự: Không.

Con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị H.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Phó Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn T thể hiện:

Anh T mắc nghiện ma tuý từ năm 1995. Ngày 22-01-2021, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường H ra Quyết định số 05/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với anh T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời gian 03 tháng. Tuy nhiên, trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, anh T vẫn sử dụng ma túy. Ngày 20-4-2021, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường H ban hành Quyết định số 40/QĐ-UBND về việc chấm dứt áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với anh T.

Ngày 19-4-2021, Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, Sở Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Hải Phòng đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy đối với anh T, Phiếu xét nghiệm nước tiểu xác định mẫu nước tiểu có chất ma túy MOP (Heroin), Phiếu trả lời kết quả ngày 19-4-2021 xác định tình trạng anh T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là MOP (Heroin).

Anh T khai nhận bản thân vẫn đang sử dụng ma túy “Heroin”, lần sử dụng ma túy gần nhất là vào hồi 08 giờ ngày 19-4-2021 tại khu vực bãi đất đường lên chùa T, Tổ dân phố C, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến: Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T được thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Anh T là người nghiện ma túy từ năm 1995, có nơi cư trú ổn định. Anh T đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện, đáp ứng đủ điều kiện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và quy định tại Điều 95, 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, đề nghị Thẩm phán - chủ trì phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa anh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hải Phòng, thời gian áp dụng từ 21 tháng đến 24 tháng.

Người bị đề nghị anh T trình bày: Anh thừa nhận đã nghiện ma túy từ năm 1995, lần sử dụng ma túy gần nhất là vào ngày 19-4-2021, anh đã nhận thức được tác hại của việc sử dụng chất ma túy, anh mong muốn từ bỏ ma túy để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Anh có nguyện vọng được cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hải Phòng và đề nghị các cơ quan chức năng xem xét cho anh được hưởng thời gian áp dụng thấp nhất để có thể sớm trở về với gia đình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ việc và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T đã đầy đủ, đúng quy định tại các điều 95, 96, 103, 104, 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Anh T là người nghiện ma túy từ năm 1995, có 03 tiền án đều về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động

- Thương binh và Xã hội quận Đồ Sơn đối với anh T; đưa anh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hải Phòng, thời gian áp dụng là từ 18 tháng đến 21 tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Đồ Sơn, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn:

Về tính hợp pháp của hồ sơ: Về đối tượng bị đề nghị, thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thẩm quyền, trình tự thủ tục lập hồ sơ, tài liệu trong hồ sơ đã đầy đủ, đúng theo quy định của khoản 1, Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm d khoản 2 Điều 6, các điều 95, 96, 103, 104 và khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về nội dung:

Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị thể hiện: Người bị đề nghị là anh Phạm Văn T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định. Anh T nghiện ma tuý từ năm 1995, đã từng cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Gia Minh, thành phố Hải Phòng từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 8 năm 2011, có 03 tiền án đều về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện. Lần gần nhất anh T sử dụng ma túy là ngày 19-4-2021. Ngày 19-4-2021, Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, Sở Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Hải Phòng đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy đối với anh T, kết quả xác định anh Thoạn có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là MOP (Heroin).

Anh T nhận thức được việc sử dụng ma túy là sai và vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện ma túy nên anh T vẫn sử dụng. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh T là vi phạm pháp luật, không những ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của bản thân, tác động tiêu cực tới kinh tế gia đình, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hải Phòng đối với anh T để cai nghiện ma túy và tạo điều kiện để anh T tái hòa nhập xã hội là cần thiết nên được chấp nhận.

Anh T không có tình tiết tăng nặng; anh T tự nguyện khai báo thành khẩn việc sử dụng trái phép chất ma túy của mình nên anh T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất vụ việc, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với anh T; xét thấy cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T với mức thời hạn trên mức tối thiểu quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính để anh T có điều kiện cai nghiện ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Quyền khiếu nại, thời hạn khiếu nại của người bị đề nghị; quyền kiến nghị, kháng nghị và thời hạn kiến nghị, kháng nghị thực hiện theo quy định tại các điều 30, 31và Điều 32 của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Anh Phạm Văn T, sinh ngày 20-11-1977; nơi cư trú: Số 3 Ngõ 75 L, Tổ dân phố C, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hải Phòng.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Anh Phạm Văn T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Đồ Sơn có quyền kiến nghị; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn có quyền kháng nghị đối với quyết định trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an quận Đồ Sơn; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hải Phòng có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Cỡ chữ