- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/QĐ-TA | Tri Tôn, ngày 17 tháng 6 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp
: Ông Nguyễn Phước Hưng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Chau Dau
Ngày 17 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/2020/QĐPH-XLHC ngày 05/6/2020 đối với:
Họ và tên: D. Giới tính: nam.
Sinh năm 1994
Dân tộc: Khmer
Tôn giáo: Phật.
Trình độ văn hóa: 6/12.
Nguyên quán: T, A.
Hộ khẩu thường trú: thị trấn T, huyện T, tỉnh A.
Chỗ ở: thị trấn T, huyện T, tỉnh A.
Tiền án: ngày 24/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2019.
Tiền sự: ngày 30/12/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 30/4/2018.
Con ông S và bà S1.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Trần Thanh Tấn, Chuyên viên Phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện Tri Tôn.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn: bà Neáng Ly, Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Ngày 21/3/2020, D bị Công an thị trấn Tri Tôn lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tại kết quả xét nghiệm ma túy của Bệnh viện đa khoa huyện Tri Tôn đối với D xác định dương tính với ma túy; tại Bản tường trình, Tờ cam kết và qua làm việc, D thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy nên cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Tri Tôn đã ban hành Quyết định số 69/QĐ-UBND giao D cho Cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh An Giang quản lý trong thời gian chờ làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 29/5/2020, Phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện Tri Tôn chuyển toàn bộ hồ sơ cho Tòa án và có văn bản số 47/PLĐTBXH đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Trong thời gian chờ làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 27/3/2020, người bị đề nghị vi phạm kỷ luật của cơ sở cai nghiệm bắt buộc. Tại phiên họp, Đại diện Phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện Tri Tôn vẫn giữ nguyên đề nghị. Người bị đề thừa nhận hành vi vi phạm như đại diện Lao động – thương binh và xã hội huyện Tri Tôn trình bày, đề nghị xem xét giảm nhẹ thời gian áp dụng để sớm trở về với gia đình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến: việc lập hồ sơ, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng theo quy định tại Điều 96, 103 và 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D.
XÉT THẤY
Căn cứ Biên bản xét nghiệm ma túy ngày 21/3/2020 của Bệnh viện đa khoa huyện Tri Tôn, việc D thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy và Biên bản vi phạm về hành vi sử dụng ma túy trái phép do Công an thị trấn Tri Tôn lập đối với D đã đủ cơ sở để xác định người bị đề nghị D nghiện ma túy. D đăng ký hộ khẩu thường trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh A và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Từ đó cho thấy, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện Tri Tôn lập đối với D là đúng theo quy định tại Điều 96, Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính nên việc đề nghị đưa D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của D thì thấy: người bị đề nghị là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức nhưng thiếu rèn luyện nên sa vào tệ nạn xã hội, sử dụng trái phép chất ma túy; đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, người bị đề nghị đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính “Vi phạm hành chính nhiều lần, tái phạm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Mặt khác, người bị đề nghị còn có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và trong thời gian chờ làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người bị đề nghị đã vi phạm nội quy của cơ sở cai nghiện; điều đó cho thấy người bị đề nghị có nhân thân xấu. Song xét thấy người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính nên cần buộc người bị đề nghị vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một khoảng thời gian cần thiết để có thể cắt cơn, giải độc và đồng thời tạo điều kiện để người bị đề nghị rèn luyện bản thân thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 21/3/2020).
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền làm đơn khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn có quyền kháng nghị quyết định này đến Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện Tri Tôn phối hợp với Công an huyện Tri Tôn đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tri Tôn; - Trưởng Phòng LĐTBXH huyện Tri Tôn; - Trưởng Công an huyện Tri Tôn; - Người bị đề nghị; - UBND thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn; - Lưu. | THẨM PHÁN Nguyễn Phước Hưng |