vanban.org

Quyết định 05/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Vưu Đức C, sinh năm 1996; Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh S.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Cơ quan đề … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Công"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Vưu Đức C, sinh năm 1996; Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh S.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/QĐ-TATrần Đề, ngày 07 tháng 4 năm 2023.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đặng Thị Ngọc Trân

2. Thư ký phiên họp: Bà Ông Thị Cành Nha

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S. Địa chỉ: Số 80 đường H, khóm 2, phường 5, thành phố S, tỉnh S. Tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 05/QĐ-TA ngày 31 tháng 3 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Vưu Đức C. Giới tính: Nam (Có mặt).

Sinh năm: 1996.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 07/12.

Nguyên quán: Huyện T, tỉnh S.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh S.

Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: 01 (Bị Tòa án nhân dân tỉnh S xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Giết người” theo bản án số 23/HSST ngày 17/6/2015. Ngày 31/7/2019, Trại giam Phước Hòa cấp Giấy chứng nhận số 453/GCN cho Vưu Đức C đã chấp hành xong án phạt tù).

Tiền sự: 01 (Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 11/QĐ-TA ngày 25/01/2021. Ngày 05/8/2022, Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S cấp Giấy chứng nhận số 16/CN-CSCN cho Vưu Đức C đã chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc).

Con ông Vưu Thanh T, sinh năm 1968 (sống) và bà Bùi Thị L, sinh năm 1972 (sống).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: ÔngLương Chí N – Chuyên viên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S (Có mặt)

Địa chỉ: Khu hành chính huyện T - Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh S.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh S: Ông Nguyễn Thành Q -Kiểm sát viên

NHẬN THẤY:

Ông Vưu Đức C bị Trưởng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi vi phạm như sau:

Vào ngày 03/3/2023, Công an xã , huyện T tiến hành làm việc với ông Vưu Đức C vì ông có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua xét nghiệm nước tiểu phát hiện ông C dương tính với Methamphetamin. Quá trình làm việc, ông C thừa nhận vào ngày 03/3/2023 ông có hành vi sử dụng chất ma túy, loại ma túy đá, hình thức sử dụng là hút. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với Vưu Đức C. Công an xã L có Công văn gửi Trạm y tế xã L đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với ông C. Ngày 03/3/2023, Trạm y tế xã L ban hành “Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy” xác định Vưu Đức C nghiện ma túy Methamphetamin.

Trong ngày 03/3/2023, Công an xã L lập biên bản giao Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện cho ông C. Do ông C không có nơi cư trú ổn định nên Công an xã V (Nơi ông C đăng ký hộ khẩu thường trú) đã đưa ông C vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S quản lý theo quy định tại khoản 2 Điều 45 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Đồng thời, Ủy ban nhân dân xã V tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với ông Vưu Đức C.

Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện T có văn bản số 06/ĐN-CNBB ngày 21/3/2023 đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Vưu Đức C.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện T: Giữ nguyên quan điểm và đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông Vưu Đức C vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S. Địa chỉ: Số 80, đường H, khóm 2, phường 5, thành phố S, tỉnh S với thời hạn là từ 18 tháng đến 24 tháng.

Ý kiến của người bị đề nghị: Ông Vưu Đức C thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đúng như lời trình bày của cơ quan đề nghị và đồng ý đi cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện T.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Hồ sơ của ông Vưu Đức C là đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó căn cứ vào các điều 95, 96 và 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T chấp nhận đề nghị của trưởng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện T xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông Vưu Đức C vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị và của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệt Trần Đề, xét thấy:

Về trình tự, thủ tục: Người đề nghị đã thực hiện đúng với quy định tại Điều 95, Điều 96, điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về hành vi vi phạm: Ngày 05/8/2022, Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S cấp Giấy chứng nhận số 16/CN-CSCN cho ông Vưu Đức C đã chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 12/8/2022, Ủy ban nhân dân xã V ban hành Quyết định số 117/QĐ-UBND quản lý cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với ông Vưu Đức C với thời gian quản lý từ ngày 09/8/2022 đến ngày 09/8/2024. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh của Công an xã V vào ngày 09/10/2022 và ngày 09/12/2022 thì ông C không sinh sống cùng gia đình, không có nơi cư trú ổn định và thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Vào ngày 03/3/2023, Công an xã L, huyện T tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Vưu Đức C vì ông có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của ông Vưu Đức C thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 32 Luật Phòng chống ma túy, Điều 40 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 nên đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện T và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của ông Vưu Đức C:

- Về tình tiết giảm nhẹ: Không có.

- Về tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về nhân thân: Ông Vưu Đức C có một tiền án về tội “Giết người” và một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà lại tiếp tục sa vào con đường nghiện ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Vưu Đức C, sinh năm 1996; Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh S.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện T phối hợp với Công an huyện T đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ