vanban.org

Quyết định 05/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Nguyễn Văn B. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn Bình - Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/QĐ-TATân Yên, ngày 25 tháng 4 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Mai Hương

2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Văn Nam - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Tân Yên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên,

tỉnh Bắc Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 07/QĐ-TA ngày 18 tháng 4 năm 2025, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn B; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16 tháng 9 năm

1993; CCCD số: 024093011578; Ngày cấp: 12/9/2022; Nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nơi thường trú: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà: Trần Thị P.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Đại uý Lục Văn Q – Trưởng Công an xã L,

huyện T, tỉnh Bắc Giang.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang: Bà

Dương Thị Hải Yến – Kiểm sát viên

NHẬN THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ nhận thấy: Nguyễn Văn B bắt đầu

sử dụng ma túy từ năm 2014. Ngày 26/3/2025 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện T có Quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 44/QĐ-UBND đối với B. Quá trình cai nghiện ma tuý tự nguyện B ký hợp đồng điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị các rối loạn tâm thần tại Trung tâm Y tế huyện T. Ngày 05/4/2025 B tự ý chấm dứt quá trình cai nghiện ma tuý tại Trung tâm Y tế huyện T. Công an xã L đã lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và lập hồ sơ đề nghị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B.

Ý kiến cơ quan đề nghị: Trưởng Công an xã L đề nghị Tòa án áp dụng

biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Bắc Giang đối với Nguyễn Văn B thới gian từ 12 đến 18 tháng với lý do hành vi của B đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Ý kiến người bị đề nghị: B thừa nhận bản thân nghiện chất ma túy và có

sử dụng ma tuý vào ngày 10/3/2025, nhất trí với kết quả xét nghiệm chất ma tuý ngày 10/3/2025, thừa nhận bản thân đã đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện, ký hợp đồng dịch vụ cai nghiện ma tuý tự nguyện tại Trung tâm Y tế huyện T ngày 01/4/2025 nhưng tự ý chấm dứt cai nghiện ma tuý tự nguyện ngày 05/4/2025, nay B nhất trí với đề nghị của Trưởng Công an xã L, xin được áp dụng biện pháp xử lý hành chính với thời gian thấp nhất.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp: Thẩm phán đã nhận thụ

lý hồ sơ và quyết định mở phiên họp theo đúng quy định của Pháp luật, thực hiện đúng thời hạn xem xét, quyết định, áp dụng biện pháp xử lý hành chính; người bị đề nghị chấp hành đúng quy định của pháp luật, đối với cơ quan đề nghị khi ban hành văn bản Đề nghị đã ghi thiếu lý do đề nghị, việc lập hồ sơ và chuyển hồ sơ cho Toà án chậm 01 ngày. Đề nghị chấp nhận quan điểm của người đề nghị, đưa B vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc với thời gian là từ 16 đến 20 tháng.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ do Công an xã L, huyện T lập, trên cơ sở

xem xét toàn diện hồ sơ, ý kiến của người bị đề nghị, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp.

XÉT THẤY:

Tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Xét thời hiệu áp dụng biện pháp cai

nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B còn thời hiệu theo quy định; Đối tượng bị đề nghị, thẩm quyền lập hồ sơ, trình tự, thủ tục lập hồ sơ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã bảo đảm đầy đủ và phù hợp về hình thức, nội dung theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 40, 41, 42 và 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Xét đề nghị của Trưởng Công an xã L: Nguyễn Văn B là người nghiện ma

tuý trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định, trong thời gian cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 44/QĐ-UBND ngày 26/3/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện T đã tự ý chấm dứt cai nghiện ma tuý tự nguyện ngày 05/4/2025 tại Trung tâm Y tế huyện T. Hành vi của Nguyễn Văn B đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy, khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính nên cần chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang và đại diện Viện kiểm sát, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với B tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi vi phạm B đã tự nguyện

khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;

Căn cứ vào Điều 3, khoản 2 Điều 5, điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều

9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020, 2022;

Căn cứ vào các Điều 3, 23, 24, 25, 30, 31, 32 Pháp lệnh về trình tự, thủ

tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày

21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

Căn cứ vào Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-

VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Nguyễn Văn B.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám)

tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Địa điểm chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ:

thôn K, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết

định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang có quyền kháng nghị quyết định của Toà án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến

nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ