vanban.org

Quyết định 05/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với: Chu Minh T, sinh ngày 21 tháng 02 năm 1998.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Chu Minh T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với: Chu Minh T, sinh ngày 21 tháng 02 năm 1998.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/QĐ-TALộc Bình, ngày 17 tháng 02 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Giáp Thanh Long

2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Hạnh

Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 05/QĐ-TA ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Chu Minh T; giới tính: Nam.

Sinh ngày 21 tháng 02 năm 1998.

Thẻ CCCD số: 020098005018; Ngày cấp: 26/05/2022; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Dân tộc: Tày.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 11/12.

Nguyên quán: Huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Không.

Con ông Chu Văn L, sinh năm 1966 và bà Chu Thị N, sinh năm 1970.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Có 01 tiền sự, Quyết định số 186a/QĐ-XPTT, ngày 04/10/2022 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng, đã chấp hành xong ngày 04/01/2023, chưa được xoá.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện L, tỉnh Lạng Sơn: Bà Nông Bích Vân - Phó Trưởng phòng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn: Bà Hứa Thuỳ Nga - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Người bị đề nghị Chu Minh T; sinh năm 1998, có hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 14/01/2023 Chu Minh T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 16/01/2023 bố của Chu Minh T là ông Chu Văn L có đơn đề nghị đưa Chu Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; ngày 31/01/2023 Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn lập Biên bản vi phạm số: 06/BB-VPHC về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Tại Bản tường trình ngày 17/01/2023 và Biên bản ghi lời khai ngày 17/01/2023, Chu Minh T đã khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý Heroine, sử dụng từ đầu năm 2022 với hình thức chích, cách ngày sử dụng và bị lệ thuộc vào chất ma tuý. Cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy đối với người bị đề nghị Chu Minh T tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 17 tháng 01 năm 2023 của người có thẩm quyền xác định Chu Minh T có nghiện ma túy.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện L, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Người bị đề nghị Chu Minh T; sinh năm 1998 có nơi cư trú ổn định tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; đã lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã và đã chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số: 01/GCN-XPTT, ngày 04/01/2023 của Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; Phiếu trả lời kết quả ngày 17 tháng 01 năm 2023 về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của người có thẩm quyền xác định Chu Minh T có nghiện ma túy. Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đã ra quyết định số 11/QĐ-UBND, ngày 17/01/2023 về thực hiện đăng ký cai nghiện, cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 31/01/2023 Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đã bị lập Biên bản vi phạm số: 06/BB-VPHC về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị Chu Minh T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; tình tiết tăng nặng: Có 01 tình tiết tăng nặng tại Quyết định số 186a/QĐ-XPTT, ngày 04/10/2022 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng, đã chấp hành xong ngày 04/01/2023, nhưng chưa được xoá, thuộc trường hợp tái phạm quy định điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện L, tỉnh Lạng Sơn đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn; đia chỉ: Km10, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đối với Chu Minh T với thời gian là 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Minh T, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Minh T là đầy đủ, có đủ căn cứ pháp lý và đảm bảo tuân thủ đúng trình tự luật định. Căn cứ vào khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; các Điều 95, 96, 103, 104, khoản 2 Điều 105, 106, 107 của Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 20, 23; 24; 31; 32, 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Minh T với thời gian từ 18 đến 20 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Chu Minh T được thực hiện như sau:

Đối với các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đã có Bản lý lịch tóm tắt của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bản tường trình ngày 17/01/2023 của người bị đề nghị; Giấy chứng nhận số: 01/GCN-XPTT, ngày 04/01/2023 của Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; Quyết định số 11/QĐ-UBND, ngày 17/01/2023 về thực hiện đăng ký cai nghiện, cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; Biên bản vi phạm số: 06/BB-VPHC về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Phiếu trả lời kết quả ngày 17 tháng 01 năm 2023 về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của người có thẩm quyền xác định Chu Minh T có nghiện ma túy và tài liệu xác định người nghiện chất ma túy có nơi cư trú ổn định tại xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Đề nghị số 03/ĐN-UBND ngày 07/02/2023 của Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đề nghị sốm 59/ĐN-CNBB ngày 09/02/2023 của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện L, tỉnh Lạng Sơn đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Như vậy, hồ sơ đã đầy đủ các tài liệu, điều kiện, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, tính từ ngày Chu Minh T thực hiện hành vi vi phạm lần cuối là ngày 14/01/2023 thì thời hiệu được đảm bảo theo quy định.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh năm 1998, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính và có đơn đề nghị đi cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Nên đủ điều kiện bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Đối với thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo điểm a, đ khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì Chu Minh Tuân có nơi cư trú ổn định tại địa bàn xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn và Công an xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Minh T là đầy đủ, hợp pháp, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Hành vi vi phạm của Chu Minh T ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Về tình tiết tăng nặng: Có 01 tình tiết tăng nặng tại Quyết định số 186a/QĐ-XPTT, ngày 04/10/2022 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng, đã chấp hành xong ngày 04/01/2023 nhưng chưa được xoá, thuộc trường hợp tái phạm quy định điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Bản thân Chu Minh T có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và cố ý thực hiện. Hành vi vi phạm đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong một thời gian nhất định nhằm mục đích để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Chu Minh T trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện L, tỉnh Lạng Sơn đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Minh T với thời gian là 18 tháng; đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Minh T với thời gian từ 18 đến 20 tháng. Xét đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện L, tỉnh Lạng Sơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà người bị đề nghị Chu Minh T đã gây ra nên được chấp nhận.

Người bị đề nghị Chu Minh T vắng mặt tại phiên họp, tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai của Chu Minh T trình bày không có ý kiến gì đối với việc lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; các Điều 95, 96, Điều 103, 104, khoản 2 Điều 105, Điều 106, Điều 107 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 3; Các Điều 20, 23; 24; 31; 32, 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Căn cứ Điều 32 của Luật phòng chống ma tuý; khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41, Điều 42, Điều 43, Điều 45, Điều 46 của Nghị định: 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định về chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với: Chu Minh T, sinh ngày 21 tháng 02 năm 1998. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại trong thời hạn là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện L, tỉnh Lạng Sơn có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, thương binh, xã hội - dân tộc huyện L, tỉnh Lạng Sơn; Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.

Cỡ chữ