- Tranh chấp gì? "cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Pháp lệnh số 149/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025 của Văn phòng Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 22 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2026/QĐ-TA | Đồng Nai, ngày 24 tháng 02 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
“Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG NAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Trần Thị V.
2. Thư ký phiên họp: Ông Quách Kim Lân.
Ngày 24 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đồng Nai tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính thụ lý số 06/2025/TB-TLHS ngày 06 tháng 02 năm 2026, về việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 06/2026/QĐ-MPH ngày 09 tháng 02 năm 2026 đối với:
Họ và tên: Trần Thành H, sinh ngày 16/5/2001;
Căn cước công dân số: 075201014270; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: công giáo; trình độ học vấn: 8/12; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; con ông (không rõ) và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1981; tiền án: không; tiền sự: 01, ngày 31/12/2025 bị Công an xã T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Được giao cho gia đình quản lý trong thời gian chờ mở phiên họp kể từ ngày 02/02/2026 cho đến nay.
(Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Công an xã T.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thành V1. Chức vụ: Cán bộ Công an xã T (Theo văn bản ủy quyền được xác lập ngày 03/02/2026).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đồng Nai: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
1. Tóm tắt hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai:
Trần Thành H là người nghiện ma túy từ năm 2018, loại ma túy thường xuyên sử dụng là ma túy đá.
Ngày 31/12/2025, Công an xã T ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC số tiền 1.500.000 đồng đối với Trần Thành H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đến ngày 07/01/2026, Ủy ban nhân dân xã T ban hành Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chát ma túy số 04/QĐ-QLNN đối với Trần Thành H.
Ngày 27/01/2026, Công an xã T kết hợp cùng Trạm y tế xã Thống Nhất tiến hành test ma túy đối với Trần Thành H, kết quả thể hiện H dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Đến ngày 29/01/2026, Công an xã T đã lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Trần Thành H, đồng thời thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2. Ý kiến cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai:
Tại Bản đề nghị ngày 03/02/2026 của Công an xã T, đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai đối với Trần Thành H, thời gian chấp hành từ 20 đến 24 tháng. Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị giữ nguyên đề nghị.
3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đồng Nai tham gia phiên họp:
Về đối tượng áp dụng: Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với Trần Thành H là đúng theo quy định tại Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 27/12/2021 và khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định, vì vậy đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị.
Về thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đề nghị áp dụng thời gian từ 20 đến 24 tháng.
4. Ý kiến của người bị đề nghị:
Trần Thành H có đơn xin vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra tại phiên họp, sau khi xem xét ý kiến của những người tham gia phiên họp, Tòa án nhận định như sau:
Về tính pháp lý của hồ sơ đề nghị:
Hồ sơ đề nghị được Công an xã T lập đúng thẩm quyền, đảm bảo về thời hiệu; thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục lập và chuyển hồ sơ đề nghị đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 103; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); các điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Về nội dung đề nghị:
Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ đề nghị, lời khai thừa nhận của người bị đề nghị, đã có đủ cơ sở kết luận:
Trần Thành H là người nghiện ma túy, đang trong thời gian cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng lại tiếp tục bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma tuý nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.
Về tính chất, mức độ của hành vi vi phạm:
Ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước nghiêm cấm, người nghiện ma túy ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần, là nguyên nhân của các tội phạm khác. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thành H, tạo điều kiện cho H chữa bệnh, lao động, học nghề, học văn hóa dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện.
Khi quyết định thời gian bắt buộc cai nghiện, Tòa án xem xét trong quá trình lập hồ sơ đề nghị Trần Thành H đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Ý kiến của đại diện Công an xã T và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đồng Nai về việc đưa người bị đề nghị vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 20, 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 03/2022/ UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Pháp lệnh số 149/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025 của Văn phòng Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;
- Các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
- Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ C - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thành H.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai, địa chỉ: Ấp C, xã X, tỉnh Đồng Nai là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị đề nghị chấp hành quyết định.
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; người bị áp dụng được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã T, tỉnh Đồng Nai thi hành Quyết định này theo luật định.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7-Đồng Nai; - Công an xã Thống Nhất; - Ủy ban nhân dân xã Thống Nhất; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trần Thị Viển |