- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị T .
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VƢC 12- HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05 /2025/QĐST - VDS | Hà Nội, ngày 04 tháng 9 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một ngƣời mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việt dân sự :
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Thiện - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Lành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội
Đại diện VKSND khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 35/2025/TLST- VDS ngày 15/4/2025 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2025/QĐST - ST ngày 25 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự :
Bà Mai Thị T , sinh năm 1952 (có mặt)
Sinh trú quán: Thôn , xã P , huyện U, TP. Hà Nội (xã Vân Đình, thành phố
Hà Nội)
2. Người có quyền lợi liên quan:
Anh Phạm Văn B , sinh năm 1983 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã P, huyện U, TP. Hà Nội (xã V, thành phố Hà Nội)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Người yêu cầu bà Mai Thị T trình bày: bà có con trai tên là Phạm Văn B, sinh năm 1983. Từ nhỏ đến lớn cháu vẫn sinh sống và ăn học tại quê nhà thôn N, xã P( nay là xã V). Đến năm cháu 18 tuổi , cháu xin bố mẹ cho cháu vào Miền Nam cùng anh trai ở tỉnh Bình Dương để làm công nhân. Sống trong tỉnh Bình Dương được một thời gian anh B xây dựng gia đình và đã sinh được 02 người con . Sau đó, Vợ chồng anh B về quê ở thôn Ngọc Động làm ăn sinh sống . Đến mùng 4 tết năm 2020 anh B lại xin Bố mẹ cho đi làm ăn với bạn bè. Trong khoảng thời gian, một hai tháng đầu anh B vẫn thông tin liên lạc về cho gia đình, sau đó dập vào đợt dịch Covit từ đó không thấy anh thông tin liên lạc gì nữa. Gia đình có đi dò hỏi tìm kiếm anh em bạn bè đi cùng với anh B nhưng họ đều không biết thông tin gì về anh B . Nay gia đình đề nghị Tòa án tuyên bố anh Phạm Văn B mất tích theo qui định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội nhận định:
Về tố tụng và thẩm quyền: bà Mai Thị T đã nộp đơn yêu cầu cùng các tài liệu, chứng cứ theo quy định. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, Điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì việc dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa ( nay là Tòa án nhân dân khu vực 12- Hà Nội).
Về nội dung: bà Mai Thị T có người con trai tên là Phạm Văn B , sinh năm 1983. Mùng 4 tết năm 2020 anh Bé xin bố mẹ đi làm ăn cùng bạn bè. Mấy tháng đầu anh Bé có liên lạc qua lại với bố mẹ và gia đình qua điện thoại, sau đó là dịch Covit anh B không liên lạc gì với gia đình nữa. Gia đình có đi dò hỏi không ai biết anh B ở đâu làm gì. Nay bà Mai Thị T là mẹ anh B có đơn yêu cầu tòa tuyên bố anh Phạm Văn Bé mất tích. Tòa án đã thụ lý vụ việc và ra Quyết định thông báo tìm kiếm theo quy định, đã đăng tin tìm kiếm anh B trên các phương tiện thông tin đại chúng; đến nay đã hết thời hạn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Bé.
Kết quả xác minh chính quyền địa phương xã Phương Tú, huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội ( nay là xã Vân Đình, Thành phố Hà Nội) là nơi anh Bé sinh sống cuối cùng trước khi anh Bé bỏ đi cung cấp: anh B vắng mặt tại địa phương từ năm 2020 đến nay.
Qua xem xét thì thấy đơn yêu cầu của bà Mai Thị T là có căn cứ, phù hợp với Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 68 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12- Hà Nội có quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Trình tự từ khi thụ lý việc dân sự, về quan hệ pháp luật, quá trình thu thập chứng cứ, về thời gian, thời hạn tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ việc, sự trình bầy của người yêu cầu tại phiên họp đã bảo đảm quy định pháp luật, đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị T tuyên bố anh Phạm Văn B mất tích.
Về lệ phí và quyền kháng cáo: Người yêu cầu phải chịu lệ phí sơ thẩm; Người yêu cầu, người liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ : Khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; các Điều 149, 370, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị T .
1. Tuyên bố chị anh Phạm Văn B mất tích.
2. Về lệ phí: Bà Mai Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí việc dân sự, được đối trừ số tiền 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí bà T đã nộp theo biên lai số 00043020 ngày 15/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ( Phòng THADS khu vực 12- Hà Nội) (bà T đã nộp đủ lệ phí).
3. Người yêu cầu, người liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định đối với bà Mai Thị T , kể từ ngày Quyết định được niêm yết đối với người liên quan anh Phạm Văn B ./.
| Nơi nhận : - TAND TP. Hà Nội; - VKSND khu vực 12- Hà Nội; - Phòng THADS khu vực 12- Hà Nội; - Đương sự; - Niêm yết tại xã Vân Đình; - Lưu VP, Hồ sơ vụ việc. | THẨM PHÁN Nguyễn Văn Thiện |