- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Lý Văn S, Mao Thị H: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của ông Lý Văn S đối với bà Mao Thị H:
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2025/QĐST-DS | Yên Minh, ngày 04 tháng 3 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng Văn Tình
Thư ký phiên họp: Bà Hồ Quỳnh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Mai Minh Thuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 19/2024/TLST-VDS, ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2025/QĐST-DS, ngày 18 tháng 02 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lý Văn S, sinh năm: 1985; dân tộc: Hoa (Hán); Nghề nghiệp: Làm ruộng; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang; (Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 03/3/2025).
- Người bị yêu cầu: Bà Mao Thị H, sinh năm: 1986; dân tộc: Hoa (Hán); nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn C, xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và đơn xin xác nhận ngày 20/8/2024, bản tự khai ngày 08/10/2024, ông Lý Văn S trình bày: Ông S và bà Mao Thị H, sinh năm 1986 cùng chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2002 tại thôn C, xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang. Đến ngày ngày 30/9/2003 thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang. Trong quá trình chung sống, ông S và bà H không có mâu thuẫn gì. Đến tháng 11 năm 2019, bà H tự bỏ đi khỏi nơi cư trú và biệt tích cho đến nay không có tin tức, ông S cùng gia đình hai bên tìm kiếm nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay ông Lý Văn S đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Minh giải quyết tuyên bố bà Mao Thị H mất tích.
Về con chung: Ông S xác nhận, ông và bà H có 04 con chung là cháu Lý Thị H, sinh ngày 11/12/2004, Lý Thị N, sinh ngày 20/01/2007, Lý Thị T, sinh ngày 04/02/2009 và Lý Tự T, sinh ngày 06/9/2011, ông S không yêu cầu giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Ông S xác nhận ông và bà H không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý vụ việc theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết việc dân sự Tòa án đã yêu cầu đương sự và đã thu thập tài liệu, chứng cứ để làm cơ sở cho việc giải quyết việc dân sự đúng quy định của pháp luật, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và niêm yết công khai đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, việc giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân huyện Yên Minh là đảm bảo tuân thủ thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Minh chấp nhận yêu cầu của ông Lý Văn S tuyên bố bà Mao Thị H, sinh năm 1986, nơi cư trú cuối cùng thôn C, xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang mất tích. Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, ông Lý Văn S phải chịu theo quy định của pháp luật. Về lệ phí giải quyết việc dân sự, đề nghị miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự cho ông Lý Văn S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang nhận định:
Về tố tụng: Bà Mao Thị H, sinh năm 1986; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn C, xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang nên đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lý Văn S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người yêu cầu chấp hành tốt các quyết định của Tòa án và có đơn xin giải quyết vắng mặt, người bị yêu cầu được triệu tập hợp lệ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự nhưng vắng mặt, căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết việc dân sự quyết định tiến hành giải quyết vắng mặt người yêu cầu ông Lý Văn S và người bị yêu cầu bà Mao Thị H.
Xét về nội dung yêu cầu: Ông Lý Văn S và bà Mao Thị H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 30/9/2003 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang nên ông S và bà H là vợ chồng hợp pháp. Quá trình chung sống ông bà không có mâu thuẫn, tuy nhiên đến tháng 11 năm 2019, bà H đã bỏ đi khỏi địa phương và biệt tích cho đến nay, ông S đã cùng gia đình hai bên áp dụng các biện pháp tìm kiếm bà H nhiều năm nay nhưng không có tin tức gì về bà Mao Thị H, nên ông Lý Văn S đã nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Mao Thị H mất tích. Tòa án nhân dân huyện Yên Minh ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 17/2024/QĐ-TA ngày 22/10/2024 đối với bà Mao Thị H; thông báo đã được đăng trên báo Công Lý 03 số báo liên tiếp 86, 87, 88 ra các ngày 25, 30 tháng 10 năm 2024 và ngày 01 tháng 11 năm 2024; được phát sóng trên kênh VOV2 Đài tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp vào 17h30 các ngày 26, 28/10/2024 và 15h00 – 16h00 ngày 27/10/2024, ngoài ra Quyết định thông báo tìm kiếm đã được đăng tải trên trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, Tòa án và gia đình vẫn không nhận được tin tức xác thực về việc bà Mao Thị H ở đâu, còn sống hay đã chết.
Xét thấy, bà Mao Thị H, trú tại thôn C, xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang bỏ đi biệt tích từ tháng 11/2019 đến nay là có căn cứ, có sự xác nhận của ủy ban nhân dân xã C nơi bà H cư trú trước khi biệt tích, phù hợp với biên bản xác minh ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ việc dân sự. Theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự thì: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”. Do đó, Tòa án có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông Lý Văn S về việc tuyên bố bà Mao Thị H mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự.
Về con chung: Ông Lý Văn S không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Ông Lý Văn S xác nhận ông và bà H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, ông Lý Văn S phải chịu nộp là: 3.794.000 đồng (Ba triệu bảy trăm chín mươi tư nghìn đồng); trong đó: Chi phí nhắn tin trên báo công lý theo hóa đơn giá trị gia tăng số 00001904 ngày 31/10/2024 của Báo Công lý là: 1.500.000 đồng; Chi phí nhắn tìm phát trên đài tiếng nói Việt Nam VOV2 là: 2.250.000 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000800 ngày 23/10/2024 của Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) và phí dịch vụ chuyển tiền mặt qua ngân hàng là 44.000đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Lý Văn S đã nộp đủ chi phí, nên không đề cập xem xét giải quyết.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lý Văn S là đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, ông S có đơn xin miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là phù hợp đúng quy định tại khoản 2 Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của ông Lý Văn S đối với bà Mao Thị H:
Tuyên bố bà Mao Thị H, sinh năm 1986; (có nơi cư trú cuối cùng tại thôn C, xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang) mất tích.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho ông Lý Văn S.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ông Lý Văn S và bà Mao Thị H vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND tỉnh Hà Giang; - VKSND huyện Yên Minh - Chi cục THADS huyện Yên Minh; - Người yêu cầu; - UBND xã M, huyện M, tỉnh Hà Giang; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP ĐÃ KÝ Đặng Văn Tình |