vanban.org

Quyết định 05/2025/QĐ-TA

TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre Tuyên án 06/01/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Hoàng P.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Hoàng P là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày anh Nguyễn Hoàng P bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Hoàng P"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Hoàng P.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2025/QĐ-TAGiồng Trôm, ngày 06 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

Với thành phần phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Phạm Minh Thơ

2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Kiến Hòa

Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 53/QĐ-TA ngày 27 tháng 12 năm 2024, đối với:

Người bị đề nghị: Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 10/10/1983.

Tên gọi khác: Không.

CCCD số: 083083019xxx, ngày cấp: 24/11/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Dân tộc: Kinh.

Giới tính: Nam.

Tôn giáo: Không.

Quốc tịch: Việt Nam.

Trình độ văn hóa: 12/12.

Nghề nghiệp: làm vườn.

Nguyên quán: xã T, huyện G, tỉnh B.

Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện G, tỉnh B.

Tiền sự: 01

Tại Quyết định số 07/2022/QĐ-TA ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 (mười lăm) tháng.

Con ông Nguyễn Tấn T (chết) và bà Phạm Thị Kim H.

Tại phiên họp, anh Nguyễn Hoàng P có mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Võ Văn Niêm - Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Đại diện theo ủy quyền của ông Võ Văn Niêm: Ông Phạm Quốc Toàn – Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (Theo Giấy ủy quyền số 911/UQ-LĐTBXH ngày 31/12/2024 của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp: Bà Huỳnh Thị Duyên Em - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu thu thập có trong hồ sơ và tại phiên họp thể hiện anh Nguyễn Hoàng P là người đủ 18 tuổi trở lên; có nơi cư trú ổn định tại ấp P, xã T, huyện G, tỉnh B; đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

Anh P là đối tượng nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 07/2022/QĐ-TA ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre với thời hạn là 15 (mười lăm) tháng. Đến ngày 14/12/2023, anh P chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Giấy chứng nhận số 126/CN-CSCNMT ngày 13/12/2023 của Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre.

Ngày 14/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh B ban hành Quyết định số 357/QĐ-UBND quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với anh P, thời hạn quản lý là 24 tháng, kể từ ngày 14/12/2023 đến ngày 14/12/2025. Tuy nhiên, đến ngày 30/11/2024, anh P tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã T, huyện G, tỉnh B đã ban hành Giấy đề nghị số 04/GĐN-CAX ngày 02/12/2024 gửi Trạm y tế xã T, huyện G, tỉnh B đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh P. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 07/12/2024 của Trạm y tế xã T, huyện G, tỉnh B đã kết luận anh P nghiện ma tuý, tên chất ma túy: Methamphetamine.

Do đó, Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh B lập Biên bản vi phạm số 18/BB-VPHC ngày 07/12/2024 về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, sau đó ban hành Thông báo số 1298/TB-UBND ngày 07/12/2024 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P và ban hành Đề nghị số 1318/ĐN-UBND ngày 23/12/2024 đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P. Trưởng Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Đề nghị số 872/ĐN-CNBB ngày 24/12/2024 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P với thời hạn là 18 (mười tám) tháng.

Tại phiên họp:

Đại diện theo ủy quyền của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P với thời hạn là 18 (mười tám) tháng.

Người bị đề nghị là anh P thừa nhận đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 (mười lăm) tháng, sau đó được quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 14/12/2023 đến ngày 14/12/2025, nhưng đến ngày 30/11/2024 anh tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Anh không khiếu nại đối với các hành vi và quyết định của các cơ quan có thẩm quyền, đồng ý với đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh với thời hạn là 18 (mười tám) tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết hồ sơ, Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại các Điều 9, 10, 12, 18 và Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Về nội dung: Căn cứ các Điều 6, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020); Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên họp, thấy rằng đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đối với anh P là có cơ sở, việc đề nghị thời hạn cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng đối với anh P là phù hợp. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre chấp nhận đề nghị của Trưởng Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P với thời hạn là 18 (mười tám) tháng.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên họp; ý kiến, kết quả tranh luận, phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thẩm quyền giải quyết:

Ngày 24/12/2024, Trưởng Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Đề nghị số 872/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Hoàng P tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre. Do đó, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020); khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

Căn cứ vào Biên bản vi phạm số 18/BB-VPHC ngày 07/12/2024 về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế của Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh B thì anh P đã có hành vi vi phạm trong thời gian quản lý sau cai nghiện mà tái nghiện. Tính đến ngày Tòa án thụ lý hồ sơ và mở phiên họp, vụ việc còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020).

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P được các cơ quan có thẩm quyền lập đúng và đầy đủ theo quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103 và Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, khoản 3 Điều 3 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về nội dung đề nghị:

Anh P là người đủ 18 tuổi trở lên; có nơi cư trú ổn định tại ấp P, xã T, huyện G, tỉnh B; đã bị áp dụng biện pháp xử hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 (mười lăm) tháng theo Quyết định số 07/2022/QĐ-TA ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, đến ngày 14/12/2023 thì chấp hành xong; sau đó, anh P được quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 14/12/2023 đến ngày 14/12/2025 theo Quyết định số 357/QĐ-UBND ngày 14/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, trong thời hạn được quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú trên, anh P tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 30/11/2024. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 07/12/2024 của Trạm y tế xã T, huyện G, tỉnh B đã kết luận anh P nghiện ma tuý, tên chất ma túy sử dụng: Methamphetamine. Do đó, Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh B lập Biên bản vi phạm số 18/BB-VPHC ngày 07/12/2024 về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, sau đó ban hành Thông báo số 1298/TB-UBND ngày 07/12/2024 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P và ban hành Đề nghị số 1318/ĐN-UBND ngày 23/12/2024 đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P. Theo bản xác nhận về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bà Phạm Thị Kim H là mẹ ruột của anh P đồng ý quản lý anh P nên Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh B ban hành Quyết định số 438/QĐ-QLNN ngày 07/12/2024 giao anh P cho bà H quản lý. Trưởng Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Đề nghị số 872/ĐN-CNBB ngày 24/12/2024 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P với thời hạn là 18 (mười tám) tháng.

Như vậy, anh P thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Anh P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng anh vẫn thực hiện. Hành vi của anh P không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của anh, ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của gia đình, mà còn làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P là cần thiết, nhằm giúp anh P cai nghiện để sớm trở thành người khỏe mạnh, sống tốt cho bản thân, có ích cho gia đình và xã hội.

Do đó, đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng:

Anh P có tình tiết giảm nhẹ là đã tự nguyện khai báo theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Anh P đã bị áp dụng biện pháp xử hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 07/2022/QĐ-TA ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, đã chấp hành xong ngày 14/12/2023, tính đến ngày 30/11/2024 khi anh P sử dụng trái phép chất ma túy là chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính mà anh còn vi phạm nên thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Các tình tiết trên sẽ được xem xét khi quyết định về thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P.

Về thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật xử phạt vi phạm hành chính quy định từ 12 (mười hai) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng. Với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đã phân tích ở trên, xét thấy thời gian cai nghiện bắt buộc đối với anh P là 18 (mười tám) tháng mà Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 6; Điều 9; Điều 10; Điều 95; Điều 96; Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Hoàng P.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Hoàng P là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày anh Nguyễn Hoàng P bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Thời hạn khiếu nại của anh Nguyễn Hoàng P là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn kiến nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành Quyết định này. * Nơi nhận:

Cỡ chữ