vanban.org

Quyết định 05/2024/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Minh T về tuyên bố bà Nguyễn Thị T bị mất tích.

Tuyên bố bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1986, cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại tổ A, khu phố T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã mất tích vào năm 2013. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Minh T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được khấu trừ và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Ông Trần Minh T yêu cầu Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị T mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Minh T về tuyên bố bà Nguyễn Thị T bị mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2024/QĐST - VDSPhú Mỹ, ngày 10 tháng 5 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SƯ

V/v: “Tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Huyền

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên họp: Bà Trịnh Ngọc Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 395/2023/TLST-VDS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số 04/2024/QĐST-VDS ngày 02 tháng 5 năm 2024:

Người yêu cầu: Ông Trần Minh T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).

Người bị yêu cầu: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1986. Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại tổ A, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, quá trình tố tụng và tại phiên họp, người yêu cầu - ông Trần Minh T trình bày:

Ông Trần Minh T là chồng của bà Nguyễn Thị T. Năm 2005, ông T và bà T tự nguyện sống chung. Ông và bà T có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 130 ngày 12 tháng 6 năm 2007. Vợ chồng có một con chung là Trần Thành T, sinh ngày 27/12/2006. Thời gian đầu thì vợ chồng chung sống nhà với cha mẹ ông T. Khoảng năm 2012, vợ chồng ra ngoài thuê nhà trọ sinh sống. Sau đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bà T không thành thật trong mối quan hệ vợ chồng, không chung thuỷ dẫn đến thường xuyên cãi vã nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Đến năm 2013, bà T tự bỏ nhà ra đi cho đến nay, ông T không liên hệ được. Ông T đã tìm kiếm nhưng không có tin tức gì, không biết bà T còn sống hay đã chết. Trước khi bỏ đi, ông T và bà T cùng sinh sống và có đăng ký thường trú tại tổ A, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Nay ông T yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ tuyên bố bà T là mất tích để làm thủ tục ly hôn. Tại phiên họp, ông T giữ nguyên yêu cầu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ phát biểu ý kiến về việc giải

quyết việc dân sự:

Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm mở phiên họp. Tại phiên họp, Thẩm phán và thư ký phiên họp tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người tham gia phiên họp đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trần Minh T, tuyên bố bà Nguyễn Thị T là mất tích.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Minh T là phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ nhận định:

Về tố tụng: Ông Trần Minh T yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1986, nơi cư trú tại tổ A, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mất tích, là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo quy định tại Khoản 3 Điều 27, điểm a Khoản 2 Điều 35 và điểm b Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Ông Trần Minh T yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị T là người mất tích: Qua lời khai của ông T và kết quả xác minh tại Công an phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thì thấy: Bà Nguyễn Thị T là người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có đăng ký hộ khẩu thường trú và thực tế có cư trú tại tổ A, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Tuy nhiên, bà T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2013 đến nay, không khai báo địa chỉ nơi đến nên địa phương, không biết hiện bà T đang ở đâu. Sau khi bà T bỏ đi, ông T đã liên hệ với gia đình và người thân của bà T để hỏi thăm nhưng cũng không ai biết tin tức gì của bà T. Ông T cũng đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm khác nhau nhưng đều không có kết quả.

Ngày 06/12/2023, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ đã ra Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 04/2023/TB-TA. Căn cứ yêu cầu của ông T, Tòa án đã tiến hành các thủ tục đăng phát, thông báo trên báo Thanh Niên 3 kỳ liên tiếp ngày 355, 356 và 357 đăng lần lượt vào các ngày 21, 22 và 23/12/2023, đăng, phát trên Đài tiếng nói Việt Nam trên sóng AM tần số 657KHz khung giờ từ 6h30p đến 7h00 và từ 14h30p đến 15h các ngày trong tuần từ ngày 28/12/2023 đến ngày 30/12/2023 theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hết thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng vẫn không có tin tức gì của bà T. Như vậy, kể từ khi bà Nguyễn Thị T bỏ đi (năm 2013) đến nay đã hơn 02 năm liền trở lên mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định về pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực bà T hiện nay đang đâu, còn sống hay đã chết. Căn cứ Điều 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự, đã hết thời gian 04 tháng kể từ ngày đăng tin theo quy định nhưng vẫn chưa tìm kiếm được người bị mất tích đối với người bị yêu cầu là bà Nguyễn Thị T.

Từ những căn cứ trên cho thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Bà Nguyễn Thị T đã đã biệt tích từ năm 2013 và cũng không có tin tức xác định bà Nguyễn Thị T còn sống hay đã chết. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của ông T về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị T mất tích như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tại phiên họp.

Về việc quản lý tài sản: Ông T không có yêu cầu nên không xem xét.

. Về chi phí tố tụng: Ông T tự nguyện chịu 5.000.000đ (năm triệu đồng) và đã nộp xong

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, ông Trần Minh T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Khoản 3 Điều 27, Khoản 2 Điều 35, điểm b Khoản 2 Điều 39, 361, 366, 369, 370, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016,

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Minh T về tuyên bố bà Nguyễn Thị T bị mất tích.

Tuyên bố bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1986, cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại tổ A, khu phố T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã mất tích vào năm 2013.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Minh T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 2716 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ông Trần Minh T đã nộp xong lệ phí.

3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ