vanban.org

Quyết định 05/2024/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 26/03/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Bùi Minh H.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị Tuyết H1, sinh năm 1976; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp mất tích Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Hoàng (TBMT)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Bùi Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2024/QĐST-VDSCao Lãnh, ngày 26 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Kim Hoa

Thư ký phiên họp: Ông Huỳnh Trọng Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tèo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 858/2024/TLST-VDS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2024/QĐST-VDS, ngày 11 tháng 3 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Bùi Minh H, sinh năm 1977

Địa chỉ: Tổ I, Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Tuyết H1, sinh năm 1976.

Nơi cư trú cuối cùng: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 27/7/2023: Anh Bùi Minh H và chị Nguyễn Thị Tuyết H1 có kết hôn và đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận kết hôn số 1315 cấp ngày 05/11/2022. Sau khi kết hôn, anh H và chị H1 sống chung và đăng ký chung hộ khẩu tại địa chỉ Tổ I, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Sau thời gian sống chung cả hai cùng đi làm xa, sống xa nhau dẫn đến không cùng quan điểm trong hôn nhân, không có tiếng nói chung nên tình cảm vợ chồng cũng nhạt dần.

Vào khoảng năm 2015, chị H1 bỏ đi, không còn sống cùng với gia đình tại địa chỉ ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, anh H đã có tìm cách liên lạc và tìm kiếm nhưng không biết chị H1 đang sinh sống ở đâu.

Anh H đã đến Trung tâm D để đưa tin yêu cầu tìm kiếm và đăng ký phát sóng trên đài truyền hình của Trung ương đưa tin tìm kiếm chị H1 nhưng đến nay vẫn không tìm được. Nay anh H yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị Tuyết H1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự là đầy đủ và đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Qua xem xét đơn yêu cầu của anh H cùng các chứng cứ kèm theo, có căn cứ xác định Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Qua đó, đủ cơ sở tuyên bố chị H1 là mất tích nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn yêu cầu của anh Bùi Minh H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật là yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối chị Nguyễn Thị Tuyết H1, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích của chị H1 là ấp B, xã B, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh quy định tại khoản 3, Điều 27, khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của anh H: anh H trình bày năm 2002, anh H và chị H1 kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp ngày 05/110/2002. Sau khi kết hôn, anh H và chị H1 đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã B, huyện C. Đến năm 2015 thì chị H1 bỏ đi khỏi địa phương, không biết đi đâu và làm gì, cũng không liên lạc với gia đình. Anh H đã nhiều lần tìm cách liên lạc với chị H1 nhưng không liên lạc được. Anh H đã đến Trung tâm D để đưa tin yêu cầu tìm kiếm chị H1 nhưng đến nay vẫn không biết thông tin gì của chị H1.

Tại xác nhận ngày 19/6/2023 của Công an xã B, huyện C thì nhân khẩu Nguyễn Thị Tuyết H1, sinh năm 1976, có đăng ký thường trú tại tổ I, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Hiện công dân vắng mặt tại địa phương từ năm 2015 cho đến nay.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của anh H, Tòa án đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 03/2023/QĐ-TA, ngày 12/10/2023. Thông báo này đã được đăng trong 03 số liên tiếp (89, 90 và 91) trên B vào các ngày 08, ngày 10 và ngày 15/11/2023; được phát trên Đài tiếng nói Việt Nam – Trung tâm Q Chi nhánh tại tại thành phố Hồ Chí Minh trong 03 ngày liên tiếp từ ngày 06, 07 đến ngày 08/11/2023; Thông báo trên cũng được đăng trên trang thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp và Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Nguyễn Thị Tuyết H1 còn sống hay đã chết.

Từ những phân tích trên có đủ cơ sở xác định chị H1 đã biệt tích 02 năm liền trở lên, không có mặt tại nơi cư trú, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị H1 là còn sống hay đã chết. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Minh H về việc yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Tuyết H1 đã bỏ khỏi nơi cư trú cuối cùng tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp bị mất tích.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu tuyên bố mất tích của anh H đối với chị H1 là phù hợp như đã phân tích ở trên.

Về lệ phí: Anh H phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Anh H phải chịu 3.044.000 đồng (Ba triệu, không trăm, bốn mươi bốn nghìn đồng) chi phí đăng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên B và Chi nhánh Trung tâm Q tại Thành phố Hồ Chí Minh. Anh H đã nộp và đã chi xong.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015;

- Khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, 180, 361, 367, 370, 371, 372, 387 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 4, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Bùi Minh H.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị Tuyết H1, sinh năm 1976; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp mất tích

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Anh Bùi Minh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004416, ngày 29/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.

3. Về chi phí tố tụng:

Anh Bùi Minh H phải chịu 3.044.000 đồng (Ba triệu, không trăm, bốn mươi bốn nghìn đồng) chi phí đăng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên B và Chi nhánh Trung tâm Q tại Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền này anh Bùi Minh H đã tạm nộp và chi xong.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ