- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Tú Q - Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2023/QĐST-HNGĐ | Mỏ Cày Bắc, ngày 24 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÓA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
Căn cứ vào Điều 212, Điều 213 và Điều 397 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc hôn nhân gia đình thụ lý số 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 về việc: “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình:
1. Chị Nguyễn Thị Tú Q, sinh năm 1991.
Địa chỉ: ấp T, xã T1, huyện M, tỉnh Bến Tre.
2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: xóm A, thôn B, xã C, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Tú Q và anh Nguyễn Văn H thành hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào ngày 28/9/2008, không vi phạm các điều kiện kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn hôn nhân trầm trọng, không thể hàn gắn được. Anh chị nhìn nhận không thể chung sống với nhau được nữa nên tự nguyện làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn. Thấy rằng tình cảm giữa anh chị không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc thuận tình ly hôn của anh H và chị Q là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về con chung: anh H và chị Q có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/12/2007 và cháu Nguyễn Thị Thu T1, sinh ngày 06/01/2011. Sau khi ly hôn, anh H và chị Q thống nhất: anh H trực tiếp nuôi cháu T, chị Q trực tiếp nuôi cháu T1, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con do chị Q, anh H không có yêu cầu. Xét thấy: sự thỏa thuận của anh H và chị Q về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của cháu T và cháu T1 tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên nên ghi nhận.
Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị Tú Q và anh Nguyễn Văn H thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: chị Nguyễn Thị Tú Q và anh Nguyễn Văn H thống nhất không có nên không đề cập.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Tú Q thuận tình ly hôn. Anh H và chị Q không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Về con chung: anh H được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/12/2007; chị Q được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Thị Thu T1, sinh ngày 06/01/2011; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con do chị Q, anh H không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị Tú Q và anh Nguyễn Văn H thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: chị Nguyễn Thị Tú Q và anh Nguyễn Văn H thống nhất không có nên không đề cập.
2. Về lệ phí Tòa án: anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Tú Q mỗi người phải nộp 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại các biên lai thu số 0002467, 0002466 cùng ngày 16/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nên anh chị không còn phải nộp thêm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc; - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc; - Các đương sự; - UBND xã Đ, - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN Nguyễn Ngọc Đạt |