- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích cụ Phạm Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Đ, T1 bố: Cụ Phạm Thị H, sinh năm 1939; địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2023/QĐST-DS | Huyện K, ngày 13 tháng 10 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu T1 bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Ngà
Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên họp: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 17/2023/TLST-VDS ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc “T1 bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 98/2023/QĐST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Người bị yêu cầu T1 bố mất tích: Cụ Phạm Thị H, sinh năm 1939; địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu T1 bố mất tích đề ngày 22 tháng 5 năm 2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Phạm Thị Đ trình bày: Cụ Phạm Thị H và cụ Phạm Văn T (chết năm 2006) chung sống với nhau từ khoảng năm 1958, sinh được 04 con chung là bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Văn T1, sinh năm 1963, ông Phạm Văn C (chết năm 2003) và ông Phạm Văn P, sinh năm 1971. Quá trình chung sống, cụ H và cụ T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi mắng nhau. Cuối tháng 7 năm 1984 cụ H tự ý bỏ đi khỏi nhà, từ đó đến nay không trở về địa phương nữa. Bà và gia đình đã đi nhiều nơi, gặp nhiều người để hỏi thăm tin tức cũng như tìm cụ H trong nhiều năm nhưng không có kết quả. Vì vậy, bà xác định cụ H biệt tích khỏi địa phương từ cuối tháng 7 năm 1984 đến nay. Bà Đ yêu cầu Tòa án T1 bố cụ Phạm Thị H, sinh năm 1939; địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích ở thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng mất tích.
Về tài sản chung và quản lý tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện các quyền, chấp hành nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Tại phiên họp, bà Đ đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt; nên Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt người yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 39; các điều 367, 369, 370, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 12 và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Đ, T1 bố cụ Phạm Thị H mất tích. Về tài sản chung và quản lý tài sản chung: Bà Phạm Thị Đ không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Về lệ phí: Bà Đ được miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện K nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Đ có đơn yêu cầu Tòa án T1 bố cụ H mất tích. Cụ Phạm Thị H có địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Yêu cầu T1 bố một người mất tích” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K.
Về giải quyết việc dân sự vắng mặt đương sự: Bà Đ là người yêu cầu vắng mặt tại phiên họp nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt người yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Cụ Phạm Thị H và cụ Phạm Văn T (chết năm 2006) chung sống từ khoảng năm 1958, sinh được 04 con chung là bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1960, ông Phạm Văn T1, sinh năm 1963, ông Phạm Văn C (chết năm 2003) và ông Phạm Văn P, sinh năm 1971. Sau khi kết hôn cụ H và cụ T cùng sinh sống tại thôn Đ1, xã Đ, huyện K. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc và thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau nên cuối tháng 7 năm 1984, cụ H tự ý bỏ nhà đi từ đó đến nay không trở về địa phương. Gia đình đã đi tìm cụ H nhiều lần, ở nhiều nơi, đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không có tin tức xác thực về việc cụ H còn sống hay đã chết. Như vậy, căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự thì xác định cụ H đã biệt tích 02 năm liền trở lên; do không xác định được ngày có tin tức cuối cùng của cụ H nên thời hạn 02 năm được tính từ ngày 01 tháng 8 năm 1984.
Bà Phạm Thị Đ làm đơn yêu cầu Tòa án T1 bố cụ Phạm Thị H mất tích. Sau khi xem xét đơn yêu cầu cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn; Tòa án nhân dân huyện K đã thụ lý việc dân sự. Ngày 02 tháng 6 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện K ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu T1 bố mất tích đối với cụ Phạm Thị H. Thông báo đã được đăng trên báo Công lý trong 03 số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp. Tòa án nhân dân huyện K tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương nơi cư trú cuối cùng của cụ H thể hiện: Từ cuối tháng 7 năm 1984 đến nay, cụ H không còn sinh sống tại thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; hiện nay địa phương không biết cụ H đang làm gì, ở đâu; không có thông tin gì về cụ H. Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (ngày 05 tháng 6 năm 2023) nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc cụ H còn sống hay đã chết. Như vậy, căn cứ theo quy định tại các điều 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự, xét thấy: Cần chấp nhận yêu cầu của bà Đ về việc T1 bố cụ Phạm Thị H, sinh năm 1939; địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng mất tích.
Về tài sản chung và quản lý tài sản chung: Bà Đ không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về lệ phí sơ thẩm: Bà Đ thuộc trường hợp người cao tuổi, có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Đ có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367; các điều 369, 370, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1, 3 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; căn cứ vào khoản 2 Điều 12 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Đ, T1 bố: Cụ Phạm Thị H, sinh năm 1939; địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng mất tích.
- Về tài sản chung và quản lý tài sản chung: Bà Phạm Thị Đ không yêu cầu, nên không giải quyết.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Đ được miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Hoàn trả lại bà Đ số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0001939 ngày 01 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Phạm Thị Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân huyện K có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện K, HP; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Người yêu cầu; - Chi cục THADS huyện K, HP; - UBND xã Đ, huyện K, HP; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Ngà |