- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hà Văn Ng.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2023/QĐDS-ST Ngày 22 - 9 - 2023 V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ toạ phiên họp: Bà Hoàng Thị Thanh - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Phượng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 38/2023/TLST-VDS ngày 09 tháng 5 năm 2023 về yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp số 06/2023/QĐPH-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hà Văn Ng, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: Thôn X, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hà Thị S, sinh năm 1962, vắng mặt.
Bà Hà Thị T, sinh năm 1978, vắng mặt.
Cùng nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn P (nay là thôn X), xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Bà Hà Thị C, sinh năm 1938, vắng mặt.
Ông Hà Văn V, sinh năm 1960, vắng mặt.
Bà Hà Thị M1, sinh năm 1973, vắng mặt.
Ông Hà Văn C, sinh năm 1975, vắng mặt.
Ông Hà Văn D, sinh năm 1981, vắng mặt.
Cùng địa chỉ cư trú: Thôn X, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 08/5/2023 và các lời khai tiếp theo, người yêu cầu ông Hà Văn Ng khai: Ông là anh trai ruột của bà Hà Thị S và bà Hà Thị T. Bà Hà Thị S và bà Hà Thị T có cùng nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn P (nay là thôn X), xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Bà Hà Thị S và bà Hà Thị T là người có thể chất và tinh thần phát triển bình thường, chưa kết hôn với ai, chưa có con đẻ, con nuôi, không có bố, mẹ nuôi. Năm 1998, bà Hà Thị S và bà Hà Thị T đã bỏ nhà đi đến nay không trở về, không liên lạc với gia đình, gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có thông tin, tin tức và không biết bà Hà Thị S và bà Hà Thị T hiện đang ở đâu, làm gì. Nay để thuận tiện cho gia đình ông trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai, ông đề nghị Tòa án tuyên bố bà Hà Thị S và bà Hà Thị T mất tích, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản của bà Hà Thị S và bà Hà Thị T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị C, ông Hà Văn V, bà Hà Thị M1, ông Hà Văn C, ông Hà Văn D khai: Bà Hà Thị C là mẹ đẻ của Hà Thị S và Hà Thị T; ông Hà Văn V là anh trai, ông Hà Văn C là em trai và ông Hà Văn D là em trai của bà Hà Thị S và bà Hà Thị T, còn bà Hà Thị M1 là em gái của Hà Thị S và là chị gái của Hà Thị T. Hà Thị S và Hà Thị T đã tự bỏ nhà đi từ năm 1998 đến nay, gia đình không có thông tin, tin tức gì. Gia đình đã bằng rất nhiều cách và qua nhiều mối quan hệ, nỗ lực tìm kiếm nhưng không có thông tin, tin tức gì của bà Hà Thị S và Hà Thị T. Nay bà Hà Thị C, ông Hà Văn Vồ, bà Hà Thị M1, ông Hà Văn C, ông Hà Văn D đều nhất trí với yêu cầu của ông Hà Văn Ng đề nghị Tòa án tuyên bố bà Hà Thị S và bà Hà Thị T mất tích; không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản của bà Hà Thị S và bà Hà Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bị yêu cầu tuyên bố mất tích là bà Hà Thị S và bà Hà Thị T có nơi cư trú cuối cùng tại thôn P (nay là thôn X), xã M, thành phố L, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu tuyên bố bà Hà Thị S và bà Hà Thị T mất tích thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ lời khai của người yêu cầu và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều là những người thân thích, ruột thịt với bà Hà Thị S và bà Hà Thị T, có căn cứ xác định:
Bà Hà Thị S và bà Hà Thị T là con đẻ của bà Hà Thị C và là chị/em gái ruột của ông Hà Văn Ng, ông Hà Văn V, bà Hà Thị M1, ông Hà Văn C, ông Hà Văn D. Bà Hà Thị S và bà Hà Thị T trước khi bỏ đi chưa từng kết hôn với ai, không có con đẻ, không có con nuôi và không có bố mẹ nuôi.
Từ năm 1998 bà Hà Thị S và bà Hà Thị T đã tự bỏ nhà đi đến nay chưa về nhà lần nào. Gia đình không biết nguyên nhân, lý do vì sao hai bà Hà Thị S và Hà Thị T bỏ đi, khi đi hai bà cũng không khai báo với chính quyền địa phương và gia đình là đi đâu, làm gì. Gia đình đã tìm mọi cách, qua nhiều mối quan hệ để tìm kiếm, nhưng vẫn không có thông tin, tin tức của bà Hà Thị S và bà Hà Thị T; không biết hai bà Hà Thị S và Hà Thị T hiện ở đâu, làm gì. Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an xã M, thành phố Lạng Sơn ngày 24/5/2023 xác nhận bà Hà Thị S và Hà Thị T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P (nay là thôn X), xã M, thành phố L, đến thời điểm tháng 01/1998, bà Hà Thị S và Hà Thị T đã bỏ nhà đi, không có mặt tại địa phương cho đến nay, không có thông tin, tin tức gì. Tại biên bản xác minh ngày 25/5/2023, đại diện lãnh đạo thôn cũng xác nhận bà Hà Thị S và Hà Thị T là con đẻ của bà Hà Thị C và ông Hà Quảng T (đã chết), từ khi đi khỏi địa phương năm 1998 bà Hà Thị S và Hà Thị T không trở về lần nào, gia đình và địa phương không có thôn tin, tin tức gì. Trước khi bỏ đi, bà Hà Thị S và bà Hà Thị T chưa kết hôn, không có chồng, con, không có tài sản, sống phụ thuộc vào gia đình.
Ngày 12/5/2023 Tòa án đã ban hành Quyết định số 01/2023/QĐ-TA thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích đối với bà Hà Thị S và bà Hà Thị T. Quyết định đã được phát trên Đài tiếng nói VOV Việt Nam vào các ngày 24, 25, 26 tháng 5 năm 2023 và đăng trên báo Công Lý 03 số liên tiếp là số 39, 40, 41 ra các ngày 17, 19 và 24 tháng 5 năm 2023; đăng trên cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn ngày 15/5/2023 và đăng trên trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn ngày 12/5/2023, theo quy định tại các Điều 384, 385, Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng kể từ khi đăng phát thông tin tìm kiếm cho đến nay đã hết 4 tháng, chính quyền địa phương, gia đình của bà Hà Thị S và Hà Thị T và Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn không nhận được thông tin, tin tức gì của bà Hà Thị S và bà Hà Thị T.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ việc như sau: Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán đã thực hiện đúng và đầy đủ về trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; Điều 39; Điều 48; Điều 67; khoản 5, 6 Điều 68; Điều 365; Điều 366; Điều 385; khoản 2 Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự; thủ tục tiến hành phiên họp đúng quy định tại Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thư ký phiên họp thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên họp sơ thẩm; các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 68 và 70 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Hà Văn Ng, tuyên bố bà Hà Thị S và bà Hà Thị T, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn P (nay là thôn X), xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn mất tích. Về lệ phí: Ông Hà Văn Ng là người cao tuổi nên miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định cho ông Hà Văn Ng.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ và nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xác định: Yêu cầu của ông Hà Văn Ng đề nghị Tòa án tuyên bố bà Hà Thị S và bà Hà Thị T mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên chấp nhận yêu cầu của ông Hà Văn Ng.
Về quản lý tài sản của bà Hà Thị S và bà Hà Thị T: Đương sự không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Hà Văn Ng là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền lệ phí nên được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định các Điều 149, 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự và theo quy định tại điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo quyết định theo quy định tại Điều 371 và khoản 1 Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ Luật dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 149, các Điều 367, 369, 370, 371, 372, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hà Văn Ng.
Tuyên bố bà Hà Thị S, sinh năm 1962 và bà Hà Thị T, sinh năm 1978; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: thôn P (nay là thôn X), xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn mất tích.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Hà Văn Ng được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự (ông Hà Văn Ng được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự).
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND Tp Lạng Sơn, T.Lạng Sơn; - Chi cục THADS Tp Lạng Sơn, T.Lạng Sơn; - UBND xã M, Tp Lạng Sơn, T.Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; HCTP | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hoàng Thị Thanh |