vanban.org

Quyết định 05/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 17/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thành L:

Tuyên bố bà Trần Thị M, sinh năm 1968; nơi cư trú cuối cùng: Số 11 lô 3 Đ (nay là số 20/25/161) C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố mất tích (L-M)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thành L:
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2022/QĐST-DSQuận Ngô Quyền, ngày 17 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoài

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 49/2021/TLST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 84/2022/QĐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số 20/25/161 C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Nguyễn Thành L và bà Trần Thị M lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, quận N, thành phố Hải Phòng ngày 27/7/1988. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại địa chỉ số 11 lô 3 Đ (nay là số 20/25/161) C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng và đã có hai con chung. Đến năm 1993, cuộc sống chung giữa ông L và bà M nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, bà Minh đã đưa hai con đi khỏi nhà từ năm 1993 đến nay. Ông L và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của bà Minh. Từ khi bà Minh bỏ đi, ông L vẫn tìm kiếm bà M nhưng vẫn không có tin tức gì của bà M. Hiện nay, ông L không biết bà Minh ở đâu, còn sống hay đã chết. Vì vậy, ông Nguyễn Thành L yêu cầu Toà án tuyên bố bà Trần Thị M mất tích. Về con chung, ông Nguyễn Thành L và bà Trần Thị M có hai con chung là Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 21/6/1988 và Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 02/5/1990. Khi bỏ nhà đi, bà M đưa cả hai con đi cùng và hiện tại hai con của ông bà đã trưởng thành nên ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Thành L phải nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thành L, tuyên bố bà Trần Thị M mất tích. Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Thành L phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận định:

- Về yêu cầu tuyên bố một người mất tích:

Ông Nguyễn Thành L và bà Trần Thị Minh kết hôn tự nguyện có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật từ năm 1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ số 11 lô 3 Đ (nay là số 20/25/161) C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng và đã có hai con chung là Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 21/6/1988 và Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 02/5/1990. Đến năm 1993, cuộc sống chung giữa ông L và bà M nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, do mâu thuẫn căng thẳng nên bà M đã bỏ nhà đi từ năm 1993 đến nay. Ông L và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của bà M.

Ngày 31 tháng 12 năm 2021 Toà án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng đã thụ lý việc dân sự yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị M mất tích theo đơn yêu cầu của ông Nguyễn Thành L; đồng thời thông báo nhắn tìm bà Minh trên Báo Công lý, Đài tiếng nói Việt Nam, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao và cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.

Tòa án nhân dân quận N đã xác minh tại chính quyền địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng của bà M xác nhận, bà M vắng mặt tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng, số 11 lô 3 Đ (nay là số 20/25/161) C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng từ năm 1993 đến nay.

Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo nhắn tìm bà M lần đầu tiên, Toà án và gia đình vẫn không nhận được tin tức xác thực về việc bà M còn sống hay đã chết. Vì vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu của ông L về việc yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị M mất tích.

- Về con chung:

Ông Nguyễn Thành L và bà Trần Thị M có hai con chung là Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1990. Khi bỏ nhà đi bà M đưa cả hai con đi cùng và hiện tại hai con chung của ông L và bà M đã thành niên, ông L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung:

Ông Nguyễn Thành L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Ông Nguyễn Thành L phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các điều 367, 369, 370, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thành L:

Tuyên bố bà Trần Thị M, sinh năm 1968; nơi cư trú cuối cùng: Số 11 lô 3 Đ (nay là số 20/25/161) C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Ông Nguyễn Thành L phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0006572 ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Ông Nguyễn Thành L đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Ông Nguyễn Thành L được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân quận N có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ