- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích của chị Đào Thị Bích H.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2021/QĐDS-ST | Kim Bảng, ngày 13 tháng 9 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: “Tuyên bố một người mất tích”
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Sen - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2021/TLST-VDS ngày 05 tháng 4 năm 2021, về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2021/QĐST-VDS ngày 06 tháng 9 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Đào Thị Bích H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn K, sinh năm 1964.
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 25 tháng 02 năm 2021 và bản tự khai tại Tòa án, chị Đào Thị Bích H là người yêu cầu trình bầy: Chị và anh Lê Văn K kết hôn tự nguyện, có đăng ký ngày 02 tháng 3 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống và làm ăn tại thôn T, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp cộng với việc vợ chồng chênh lệch nhau về tuổi tác nên trong cuộc sống không tìm được tiếng nói chung thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Tháng 02 năm 2016, anh K nói đi làm ăn xa và thỉnh thoảng có liên lạc điện thoại về cho chị sau đó từ tháng 03/2017 cho đến nay thì không liên lạc về cho chị lần nào nữa. Anh K bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn T, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cho đến nay đã hơn 05 năm không về chung sống cùng chị lần nào, chị cũng không biết tin tức gì về anh K đang làm gì, ở đâu, mặc dù chị đã tìm kiếm nhưng không có kết quả. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án tuyên bố là anh Lê Văn K mất tích theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, chị Hằng giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lê Văn K mất tích. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự. Căn cứ khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149 và Điêu 389 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 68 của Bộ luật Dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị Bích H về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lê Văn K mất tích. Lệ phí: Chị Đào Thị Bích H phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đồng chị H đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam nhận định:
Chị Đào Thị Bích Hằng và anh Lê Văn K kết hôn tự nguyện, có đăng ký ngày 02 tháng 3 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống và làm ăn tại thôn T, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp cộng với việc vợ chồng chênh lệch nhau về tuổi tác. Tháng 02 năm 2016, anh K đi làm ăn sau đó đã bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn T, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cho đến nay đã hơn 05 năm không về chung sống cùng chị H lần nào. Chị H cũng không biết tin tức gì về anh K đang làm gì, ở đâu, mặc dù chị H đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm.
Trên cơ sở yêu cầu của chị H, ngày 16 tháng 4 năm 2021 Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2021/QĐ-TA đối với anh Lê Văn K được đăng trên báo Công lý 03 số liên tiếp, số 36 ngày 05/5/2021, số 37 ngày 07/5/2021 và số 38 ngày 12/5/2021 và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp là các ngày 06/5/2021, ngày 07/5/2021 và ngày 08/5/2021. Nay đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Lê Văn K còn sống hay đã chết. Ủy ban nhân dân xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cũng xác nhận anh Lê Văn K bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ năm 2016 cho đến nay không có tin tức, không trở về địa phương lần nào. Do đó chị Đào Thị Bích H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng tuyên bố anh Lê văn K mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự được chấp nhận.
Chị Đào Thị Bích H yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lê Văn K mất tích, không yêu cầu xem xét, giải quyết vấn đề nào khác nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về lệ phí: Chị Đào Thị Bích H phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 371 và 372 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149 Điều 371; Điều 372 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 68 Bộ luật Dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích của chị Đào Thị Bích H.
Tuyên bố anh Lê Văn K, sinh năm 1964; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mất tích.
2. Lệ phí: Chị Đào Thị Bích H phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đồng chị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004297 ngày 05 tháng 4 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chị H đã nộp đủ.
Chị Đào Thị Bích H có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Anh Lê Văn K có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - Chi cục THADS huyện Kim Bảng; - Các đương sự; - UBND xã Thanh Sơn; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Bùi Thị Nguyệt |