- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2021/QĐST-VDS | Vị Thủy, ngày 30 tháng 9 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Văn Hùng
Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 102/2021/TLST-VDS, ngày 18 tháng 5 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 91/2021/QĐST-VDS, ngày 14 tháng 9 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị H, sinh năm: 1975; địa chỉ: Ấp 03, xã V, huyện T, tỉnh H (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị T, sinh năm: 1940; địa chỉ: Ấp 03, xã V, huyện T, tỉnh H (Vắng mặt).
2. Anh Trần Quốc S, sinh năm: 1972; địa chỉ: Ấp 03, xã V, huyện T, tỉnh H (Vắng mặt).
3. Ông Phạm Vũ H, sinh năm: 1966; địa chỉ: Ấp 03, xã V, huyện T, tỉnh H (Có mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Vào ngày 10/5/2021, người yêu cầu là chị Trần Thị H trình bày: Vào năm 1991, cha mẹ chị H là ông Trần Văn C (chết) và bà Trần Thị T có cho vợ chồng chị H diện tích 20.485m2 tại ấp 03, xã V, huyện T, tỉnh H. Sau khi được tặng cho đất, chị H đã cất nhà ở ổn định đến nay là 29 năm, không ai tranh chấp. Đến năm 2019, chị H phát hiện phần diện tích 1.005m2 đã xây nhà còn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C với bà Tám đứng tên, hiện nay bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy kê biên để thi hành khoản nợ của anh Trần Quốc S, phần diện tích còn lại nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người khác.
Đến năm 2014, bà Trần Thị T và anh Trần Quốc S bỏ địa phương, chị H và gia đình đã tìm mọi cách để tìm kiếm, nhưng không rõ tung tích hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Do đó, chị H yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị T với anh Trần Quốc S là người mất tích. Anh Phạm Vũ H có cùng ý kiến như chị H.
Tại phiên họp, chị Trần Thị H tự nguyện rút lại phần yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị T là người mất tích, giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Trần Quốc S là người mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang nhận định:
Việc áp dụng pháp luật về tố tụng:
Vào năm 2014, bà Trần Thị T với anh Trần Quốc S (là mẹ và anh của chị Trần Thị H), đã bỏ đi khỏi địa phương; chị H và gia đình đã tìm mọi cách để tìm kiếm, nhưng không rõ tung tích của anh Trần Quốc S hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Theo xác nhận của chính quyền địa phương: “Bà Trần Thị H là con bà Trần Thị T, là em ruột anh Trần Quốc S; bà Trần Thị T và anh Trần Quốc S đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2014 cho đến nay”; đến ngày 05/4/2021, chị H tiếp tục thông báo trên Đài Truyền thanh huyện Vị Thủy nhưng cũng không có tin tức gì về bà Trần Thị T và anh Trần Quốc S. Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
[1.2] Tại phiên họp, chị Trần Thị H tự nguyện rút lại phần yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị T là người mất tích, việc rút một phần yêu cầu của đương sự là tự nguyện, phù hợp với quy định tại các Điều 5, 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng pháp luật về nội dung: Do anh Trần Quốc S đã bỏ địa phương đi từ năm 2014, nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
Về phía người yêu cầu chị Trần Thị H đã yêu cầu Tòa án nhắn tin trên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Cơ quan thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh phát sóng vào lúc 17 giờ 30 đến 18 giờ, trong 03 ngày: 29, 30 và 31/5/2021; và Báo Công lý, trên ba số báo liên tiếp: 44, 45 và 46, ra các ngày 01, 04 và 08/6/2021, tìm anh Trần Quốc S; tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng không có tin tức gì về anh Sử. Theo khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”. Thời gian từ năm 2014 - 2021 là 07 năm, mặc dù chị H đã áp dụng các biện pháp tìn kiếm trên Báo Công lý và Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền thanh huyện Vị Thủy, nhưng không có tin tức xác thực về anh S còn sống hay đã chết. Do đó, yêu cầu của chị H về việc: Yêu cầu tuyên bố anh Trần Quốc S là người mất tích là có căn cứ.
Về lệ phí: Do chị Trần Thị H là người yêu cầu giải quyết việc dân sự. Theo khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 thì: “1. Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí sơ thẩm không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận đơn yêu cầu của họ, trừ trường hợp không phải chịu lệ phí Tòa án hoặc được miễn nộp tiền lệ phí Tòa án theo quy định của Nghị quyết này”. Số tiền chị H đã nộp tạm ứng lệ phí là 3.500.000đ, đã chi hết tổng số là 3.100.000đ, còn lại 400.000đ đã giao trả lại cho chị H (đã giao nhận xong). Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết yêu cầu của đương sự là có căn cứ.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Các Điều 5 và 6, khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 91 và các Điều 93, 149, 150, 361, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H về việc: Yêu cầu tuyên bố anh Trần Quốc S, sinh năm: 1972; địa chỉ cuối cùng: ấp 03, xã V, huyện T, tỉnh H là người mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự chị Trần Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được chuyển từ số tiền 300.000đ tạm ứng lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0009655, ngày 18/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành lệ phí sơ thẩm.
- Lệ phí nhắn tin trên Báo Công lý số tiền là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng), Lệ phí nhắn tin trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh số tiền là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng), cước phí bưu chính 100.000đ, tổng cộng là 3.100.000đ (Ba triệu một trăm ngàn đồng), chị H đã nộp xong, không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục THADS h.Vị Thủy; - Các đương sự; - UBND xã, h.Vị Thủy; - Cổng TTĐT (Để công bố); - Lưu: Hồ sơ việc dân sự; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Văn Hùng |